vanban.org

Bản án 91/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thùy T đối với ông Huỳnh Thanh P. Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Thùy T và ông Huỳnh Thanh P.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thùy T và ông Huỳnh Thanh P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 236 ngày 29 tháng 11 năm 2002 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Có 02 con chung tên là … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn anh P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thùy T đối với ông Huỳnh Thanh P. Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Thùy T và ông Huỳnh Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 91/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 23/4/2026
Về việc tranh chấp: “Ly hôn,
tranh chấp nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tường Bích;

2. Ông Lê Văn Đạo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 359/2025/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 63/2026/QĐST- HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy T, sinh năm 1985 (Vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 09/01/2025, nơi cấp: Bộ C.

Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 06/10/2025.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh P, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

CCCD số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 18/7/2022, nơi cấp: Bộ C.

Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 10/10/2025, Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Thùy T trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông P tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2002. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 02/2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà T yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông P.

- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Trúc P1, sinh ngày 10/4/2002, Huỳnh Thị Phương T1, sinh ngày 18/02/2010. Cháu P1 đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi cháu T1 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long đã tống đạt hợp lệ cho ông Huỳnh Thanh P các văn bản tố tụng nhưng ông P vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Huỳnh Thanh P.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt, bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là không chấp hành tốt nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thùy T đối với ông Huỳnh Thanh P.

- Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Thị Phương T1, sinh ngày 18/02/2010 cho bà Trần Thị Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận bà Trần Thị Thùy T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

- Về nợ chung: Bà T khai không có nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trần Thị Thùy T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Huỳnh Thanh P. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Huỳnh Thanh P có đăng ký thường trú và sinh sống tại ấp A, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Vĩnh Long.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do. Bà Trần Thị Thùy T vắng mặt và có Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 06/10/2025. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông P cưới nhau vào năm 2002 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 236 ngày 29 tháng 11 năm 2002 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P được công nhận hợp pháp.

Nay, bà T yêu cầu ly hôn ông P vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bà T trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của ông bà đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 02/2025, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.

Toà án đã tiến hành mời bà T và ông P để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông P vẫn vắng mặt không lý do, điều đó cho thấy ông P đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.

Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa bà T và ông P đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình sống chung giữa bà T và ông P có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Trúc P1, sinh ngày 10/4/2002, Huỳnh Thị Phương T1, sinh ngày 18/02/2010. Cháu P1 đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, bà T yêu cầu nuôi cháu T1 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con

Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu T1 đang sống cùng với bà T nên để bà T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T1 là phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng cháu P1. Bà T nuôi con chung nhưng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

Về nợ chung: Bà Trần Thị Thùy T khai không có nên không xét đến.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Bà Trần Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thùy T đối với ông Huỳnh Thanh P. Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Thùy T và ông Huỳnh Thanh P.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Thùy T và ông Huỳnh Thanh P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 236 ngày 29 tháng 11 năm 2002 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện H, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên là Huỳnh Thị Trúc P1, sinh ngày 10/4/2002, Huỳnh Thị Phương T1, sinh ngày 18/02/2010. Cháu P1 đã trưởng thành, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết.

Giao con chung Huỳnh Thị Phương T1, sinh ngày 18/02/2010 cho bà Trần Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện bà Trần Thị Thùy T không yêu cầu ông Huỳnh Thanh P cấp dưỡng nuôi con.

Bà Trần Thị Thùy T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Ông Huỳnh Thanh P trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà Trần Thị Thùy T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, đồng thời theo yêu cầu của ông P, bà T, Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thùy T khai tự thỏa thuận nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Bà Trần Thị Thùy T khai không có nên không xét đến.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà Trần Thị Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006426 ngày 17 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Vậy, bà Trần Thị Thùy T đã nộp đủ án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ