- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Hoài T- Hồ Trung H"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Hoài T.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2026/HNGĐ - ST Ngày: 15- 6 -2026 V/v:“Xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thường và ông Chu Quang Cường
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Văn Thị Thu Hường.
Trong ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 4 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 174/2026/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2026/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Hoài T, sinh năm 1992; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn A Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Trung H, sinh năm 1979; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: Thôn A Q, xã Q, tỉnh Nghệ An; có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Vũ Văn S, sinh năm 1986; CCCD: xxxxxxxxxxxx Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/4/2026 , bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Lê Hoài T trình bày:
Chị và anh Vũ Văn S trước đây có quan hệ là vợ chồng nhưng sau đó có mâu thuẫn nên đã được Tòa án giải quyết ly hôn. Trong thời gian chung sống với anh S thì chị có quen biết anh Hồ Trung H nên đã sinh được cháu Vũ Ngọc Lê V, sinh ngày 7/5/2013, nên cháu V được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T và anh S. Trong Quyết định ly hôn có ghi cháu V là con chung của anh Vũ Văn S và chị Lê Hoài T. Do khi đó chưa ly hôn với anh S nên họ tên cha của cháu V vẫn là anh Vũ Văn S. Nhưng sau khi ly hôn thì chị đã thay đổi họ tên cho cháu thành Lê Ngọc Hương V1 tại UBND xã Q, theo Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 26/6/2015 về việc thay đổi, cải chính hộ tịch. Từ khi ly hôn đến nay cháu V1 ở với chị nhưng thời gian gần đây cháu muốn sang họ bố và trở về với bố đẻ của mình. Ngày 03/2/2026 chị T có giấy đề nghị xác định ADN tại Công ty Cổ phần D, kết quả cho thấy cháu Lê Ngọc Hương V1 và anh Hồ Trung H có quan hệ là cha – con tần suất 99,999 %. Nay chị T yêu cầu Tòa án xác định anh Hồ Trung H là cha đẻ của con Lê Ngọc Hương V1, sinh ngày 7/5/2013.
Tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải bị đơn anh Hồ Trung H trình bày:
Khoảng năm 2012 anh có quen biết và sau đó có quan hệ tình cảm với chị Lê Hoài T, khi đó chị T chưa giải quyết ly hôn với chồng là anh Vũ Văn S. Chị T sinh con thì anh không biết, nhưng được vài năm sau khi chị T ly hôn thì anh mới biết cháu V1 là con của anh. Giữa anh và cháu đã đi lại mấy năm nay nhưng chưa có giấy tờ nào thể hiện cháu V1 là con của anh. Nay theo nguyện vọng của con và của chị T muốn xác định anh H là cha đẻ của cháu V1 thì anh nhất trí. Anh thống nhất kết quả xét nghiệm ADN của Công ty Cổ phần D.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn S trình bày:
Anh thống nhất như chị Lê Hoài T trình bày. Trước đây chị T và anh S là vợ chồng nhưng do mâu thuẫn nên đã sống ly thân, trong thời gian chị T và anh sống ly thân thì chị T có quan hệ với người khác và sinh ra cháu Vũ Ngọc Lê V, sinh ngày 7/5/2013. Do thời gian cháu V sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh và chị T nên theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 61/2014/QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2014 có ghi tên cháu Vũ Ngọc Lê V là con chung giữa anh S và chị T. Sau khi anh và chị T ly hôn thì chị T có thay đổi tên cho cháu là Lê Ngọc Hương V1. Nay có kết quả xét nghiệm ADN cháu V1 là con của anh Hồ Trung H. Nên chị T yêu cầu Tòa án xác định anh H là cha đẻ của cháu V1 thì anh nhất trí.
Kết quả phân tích ADN của Công ty Cổ phần D ngày 03/2/2026 cho thấy anh Hồ Trung H và cháu Lê Ngọc Hương V1 có quan hệ cha – con xác suất 99,999%.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Hoài T. Xác định anh Hồ Trung H, sinh ngày 26/6/1979 số CCCD xxxxxxxxxxxx là cha đẻ của cháu Lê Ngọc Hương V1 (tức Vũ Ngọc Lê V), sinh ngày 07/5/2013; đương sự không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Chị Lê Hoài T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết xác định cha cho con nên đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Anh Hồ Trung H có hộ khẩu thường trú tại thôn A Q, xã Q, tỉnh Nghệ An. Căn cứ quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sửa đổi bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.
Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227, 228, 238 Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung:
Chị Lê Hoài T và anh Vũ Văn S trước đây là vợ chồng hợp pháp và sinh được 01 con chung trong thời kỳ hôn nhân. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, do không thể chung sống nên ngày 29/4/2014 được TAND huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận giải quyết cho anh chị ly hôn, giải quyết về con chung. Trước khi ly hôn với anh S, chị T đã quen biết, phát sinh tình cảm và có con chung với anh Hồ Trung H, đến ngày 07/5/2013 chị T sinh con tên là Vũ Ngọc Lê Vy . Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân gia đình thì cháu V là con chung trong thời kỳ hôn nhân giữa chị T và anh S. Tuy nhiên, anh S xác định giữa anh và chị T không có con chung. Cháu Vũ Ngọc Lê V, sinh ngày 07/5/2013 là con riêng của chị T. Chị T cũng đã tự đi xét nghiệm ADN tại Công ty Cổ phần D đã kết luận anh Hồ Trung H và cháu Lê Ngọc Hương V1 (tức cháu Vũ Ngọc Lê V) có quan hệ huyết thống cha con có độ tin cậy >99,9999%. Anh H và anh S cũng thống nhất với kết quả xét nghiệm trên và không ai có ý kiến khiếu nại gì. Anh H, anh S cũng thống nhất như yêu cầu của chị T về việc xác định anh Hồ Trung H là cha đẻ của cháu Lê Ngọc Hương V1, tức Vũ Ngọc Lê V, sinh ngày 07/5/2013.
Do đó, căn cứ vào các điều 89, 90, 91, 101, 102 Luật Hôn nhân gia đình, xác định anh Hồ Trung H là bố đẻ của cháu Lê Ngọc H1 Vy tức Vũ Ngọc Lê V, sinh ngày 07/5/2013 như yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Vì cháu V không phải là con của anh Vũ Văn S, nên anh S không có quyền lợi, nghĩa vụ gì đối với cháu V.
Về án phí: Anh Hồ Trung H được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào các Điều 101, 102 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Hoài T.
Xác định anh Hồ Trung H, sinh ngày 26/6/1979, số CCCD xxxxxxxxxxxx là cha đẻ của cháu Lê Ngọc Hương V1 (tức Vũ Ngọc Lê V), sinh ngày 07/5/2013.
Anh Hồ Trung H, chị Lê Hoài T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch cho cháu Lê Ngọc Hương V1.
3. Về án phí: Anh Hồ Trung H được miễn án phí theo quy định pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 4 – Nghệ An; - Cơ quan THADS tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã Quỳnh Sơn; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Hà |