- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu Nga"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Trương Quốc D được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2026/HNGĐ-ST Ngày 07 - 4 - 2026 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Quốc Hội.
2. Ông Văn Vũ Biên Cương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
Đại diện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái H – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 17 tháng 03 và 07 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 431/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025, Về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2026 và quyết định hoãn phiên tòa số: 128/2026/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 03 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1989;
- Bị đơn: Trương Quốc D, sinh năm 1987.
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị Thu N trình bày:
Vào năm 2007, chị N và anh D cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T năm 2009. Vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu, đến thời gian gần đây giữa vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và ly thân từ năm 2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân giữa anh chị cũng không hàn gắn được tình cảm. Xét thấy tình cảm vợ chồng không thể nào hàn gắn lại được nữa cho nên nay chị N yêu cầu:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N yêu cầu được ly hôn với anh Trương Quốc D.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Trương Thị Thu N1, sinh ngày 04/12/2007; Trương Thị Thu H1, sinh ngày 15/5/2010 và Trương Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 12/12/2021 hiện đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung Trương Thị Thu H1, sinh ngày 15/5/2010 và Trương Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 12/12/2021, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con; Đối với con chung Trương Thị Thu N1, sinh ngày 04/12/2007 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trương Quốc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị N và anh D ly hôn; giao 02 con chung Trương Thị Thu H1, sinh ngày 15/5/2010 và Trương Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 12/12/2021 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con; Đối với con chung Trương Thị Thu N1, sinh ngày 04/12/2007 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống nên không giải quyết; không có tranh chấp về tài sản và nợ nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã T nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu N vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trương Quốc D được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh D.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Trương Quốc D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp năm 2009. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Chị N yêu cầu ly hôn với anh D. Trong quá trình giải quyết vụ án anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tại 02 lần phiên tòa sơ thẩm anh D cũng không có mặt. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị đơn là anh D đã biết việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn (niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định), nhưng bị đơn không có ý kiến, không phản đối yêu cầu của nguyên đơn và không đến theo giấy triệu tập và văn bản của Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Việc khởi kiện yêu cầu ly hôn chị N trình bày vợ chồng đã bất đồng quan điểm và ly thân từ năm 2023 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nay chị N thấy mục đích của hôn nhân không đạt được nên kiên quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị N kiên quyết ly hôn, anh D không có ý kiến gì về yêu cầu của chị N. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu N theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng chị N và anh D có 03 con chung tên: Trương Thị Thu N1, sinh ngày 04/12/2007; Trương Thị Thu H1, sinh ngày 15/5/2010 và Trương Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 12/12/2021 hiện đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Trương Thị Thu H1, sinh ngày 15/5/2010 và Trương Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 12/12/2021; đối với con chung Trương Thị Thu N1, sinh ngày 04/12/2007 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy: cháu Thu H1 và Hải Đ hiện đang sống chung với chị N và có nguyện vọng sống chung với mẹ (đối với cháu Thu H1 trên 7 tuổi ) nên giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết; Đối với con chung Trương Thị Thu N1, sinh ngày 04/12/2007 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, chị Nguyễn Thi Thu N2 là người khởi kiện phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000 đồng. Anh Trương Quốc D không phải chịu án phí.
Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu N và anh Trương Quốc D được ly hôn.
2. Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung Trương Thị Thu H1, sinh ngày 15/5/2010 và Trương Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 12/12/2021 cho chị Nguyễn Thị Thu N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trương Quốc D không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp anh Trương Quốc D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thi Thu N2 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Trương Quốc D; Đối với con chung Trương Thị Thu N1, sinh ngày 04/12/2007 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0007621 ngày 11-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp (Phan Văn T nộp thay). Chị Nguyễn Thị Thu N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Trương Quốc D không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 12 – Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thùy Dung |