- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Vũ L - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Vũ L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Bản án số: 91/2025/HS-ST Ngày: 20/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Lưu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Bá Chương
2. Bà Nguyễn Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Vũ L, sinh năm: 1998; nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ); Giới tính Nam; Nơi thường trú: ấp A, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã G, thành phố Cần Thơ); Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Trường N và bà Nguyễn Thị N1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 17/3/2025 (có mặt).
- Bị hại: Anh Tống Văn T, sinh năm 1994
Địa chỉ: số E đường T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Vào ngày 16/3/2025, Lê Vũ L đã mang tài sản là 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A15 5G màu xanh đang sử dụng đến cửa hàng cầm đồ “Anh P”, tại địa chỉ: số E T, Khu phố H, phường T, thành phố T (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) để cầm cố. Tại đây, L gặp và thỏa thuận với anh Tống Văn T (sinh năm 1994, là chủ cửa hàng). Anh T1 đồng ý nhận cầm cố chiếc điện thoại trên với số tiền 2.300.000 đồng, thời hạn từ ngày 16/3/2025 đến 28/3/2025, tiền lãi là 30.000 đồng. Khi lập Hợp đồng cầm cố tài sản số 4438 ngày 16/3/2025, L đã cung cấp tên giả là Lê Chí K.
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 17/3/2025, L quay lại chuộc điện thoại và trả tiền đúng theo thỏa thuận hợp đồng. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, L tiếp tục quay lại cửa hàng cầm đồ “Anh P” để cầm chiếc điện thoại trên, do còn tờ hợp đồng số 4338 ngày 16/3/2025 nên anh T1 đưa lại cho L tờ hợp đồng này, L đồng ý và nhận số tiền 2.300.000. Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 17/3/2025, Lê Vũ L quay lại tiệm cầm đồ “Anh P”. Lần này L giả vờ hỏi mượn lại chiếc điện thoại đã cầm cố với lý do để liên lạc người thân nhờ chuyển tiền chuộc. Tin lời L, anh T1 đã đồng ý và giao điện thoại cho L sử dụng tại chỗ. Ngay sau đó, anh T1 có việc đi ra ngoài, nhờ vợ là chị Lê Thị H (sinh năm 1995) trông coi cửa hàng và dặn chỉ giao lại điện thoại cho L sau khi nhận đủ tiền. Sau một lúc sử dụng điện thoại, lợi dụng khi chị H không chú ý quan sát, L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Lập tức, L cầm chiếc điện thoại đi ra rồi nhanh chóng bỏ chạy ra khỏi cửa hàng. Phát hiện sự việc, chị Hồng tri H1 và đuổi theo. Cùng lúc này, anh T1 quay về, thấy sự việc nên đã điều khiển xe máy đuổi theo, bắt giữ được L cùng tang vật tại trước địa chỉ số B, đường H, Khu phố A, phường T, thành phố T (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) sau đó bàn giao cho Công an phường T lập hồ sơ xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Vũ L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của L phù hợp với lời khai của người bị hại, thông tin do camera ghi lại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Kết luận định giá tài sản số 132-KV3-HĐĐGTS ngày 09/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A15 5G, RAM 8GB, bộ nhớ 128GB, màu xanh, số IMEI: 351250090316254, đã qua sử dụng, có giá trị là 2.267.000 (hai triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01(một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A15 5G, RAM 8GB, bộ nhớ 128GB, màu xanh. Ngày 04/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Tống Văn T;
- 01 (một) USB chứa dữ liệu video ghi lại diễn biến vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Lê Vũ L đã bồi thường cho anh Tống Văn T số tiền gốc và lãi là 2.330.000 đồng, và anh T đã nhận lại tài sản bị cướp giật là điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A15 5G nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[2] Bản Cáo trạng số 26/CT-VKSKV2 ngày 09/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Vũ L về tội “Cướp giật tài sản” theo Khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”, áp dụng Khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Lê Vũ L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì và bị cáo nói lời sau cùng rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Lê Vũ L đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ tiệm cầm đồ “Anh P” của anh Tống Văn T rồi nhanh chóng bỏ chạy để chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A15 5G có giá trị là 2.267.000 đồng thì bị bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Lê Vũ L đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình của bị cáo có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S Galaxy A15 5G. Ngày 04/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Tống Văn T;
- 01 (một) USB chứa dữ liệu video ghi lại diễn biến vụ án, là chứng cứ trực tiếp nên cần được lưu vào trong hồ sơ vụ án;
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Lê Vũ L đã bồi thường cho anh Tống Văn T số tiền gốc và lãi là 2.330.000 đồng, và anh T đã nhận lại tài sản bị cướp giật là điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A15 5G nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Vũ L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Áp dụng Khoản 1 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Vũ L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2025.
3. Áp dụng Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Vũ L phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo Lê Vũ L có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP . HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND KV2 - TP . HCM; - Cơ quan CSĐT Công an TP . HCM; - Trại tạm giam Chí Hòa, Công an TP. HCM; - Cơ quan THA.HS Công an TP. HCM; - THADS TP . HCM; - Sở Tư pháp TP . HCM; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Quốc Lưu |