- Tranh chấp gì? án hình sự — "Diệp Đức P trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Diệp Đức P phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2025/HS-ST Ngày 12-12-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hà Thị Hồng Thu;
2. Ông Ma Thanh Trọng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Thu Hà, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1
- Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vy Tiến Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HS ngày 26/11/2025 đối với bị cáo:
Diệp Đức P, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1973 tại tỉnh Lạng Sơn. Số căn cước công dân: 020073001431, cấp ngày 16/04/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số B (nay là số C), đường B, phường K, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Diệp Hán H (đã chết) và bà Lý Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Đã từng bị kết án, xử lý hành chính như sau:
- Ngày 28/01/1991, trộm cắp tài sản công dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, Công an thị xã L khởi tố, không thu thập được bản án;
- Ngày 05/5/1996, trộm cắp tài của công dân, không thu thập được kết quả xử lý.
- Tại Bản án số 07/HS-ST ngày 27/01/2000 của Tòa án nhân dân thị xã Lạng Sơn, xét xử 02 năm tù giam về tội trộm cắp tài sản của công dân, đã được xóa án tích;
- Tại Bản án số 43/HSST ngày 25/6/2004 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản của công dân, đã được xóa án tích;
- Ngày 31/10/2007, Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 100.000đồng, đã được xóa;
- Ngày 29/8/2009, Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 200.000đồng, đã được xóa;
- Ngày 26/11/2009, bị Ủy ban nhân dân tỉnh L quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vì thường xuyên trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng, đã được xóa.
- Ngày 11/6/2012, bị Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Lạng Sơn để cai nghiện, thời hạn 24 tháng, đã được xóa;
- Bản án số 45/2018/HSST ngày 06/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử 18 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích;
- Ngày 22/6/2021, Ủy ban nhân dân phường H3, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bằng hình thức cai nghiện tại gia đình trong hạn 03 tháng, đã được xóa.
- Bản án số 155/2021/HS-ST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/7/2025, tạm giam từ ngày 12/7/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
1. Cháu Lý Gia K, sinh ngày 25/6/2008; Vắng mặt;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Lý Gia K: Bà Trịnh Quốc L, sinh năm 1976 là mẹ đẻ và ông Lý Văn L1, sinh năm 1973 (bố đẻ), cùng trú tại: khối P, phường K, tỉnh Lạng Sơn. Đều vắng mặt;
2. Cháu Đào Nhật N, sinh ngày 10/10/2012; Vắng mặt;
Người đại diện hợp pháp của cháu Đào Nhật N: Bà Đào Thị Hương Q, sinh năm 1995 (là mẹ đẻ), anh Vy Nhất L2, sinh năm 2004 (là anh trai). Cùng trú tại: Số C, đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn. Đều vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Đào Nhật N: Bà Lương Thị L3, Luật sư thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
3. Chị Triệu Thị Kim N1, sinh năm 2005, trú tại: Khối K, phường T, tỉnh Lạng Sơn; địa chỉ nơi làm việc: Nhà nghỉ T, số C, đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt;
4. Ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1983, trú tại: Số A, ngõ C, đường H, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Ngô Thị H1, sinh năm: 1974, trú tại: số A, đường T, phường K, tỉnh Lạng Sơn; Vắng mặt.
2. Bà Diệp Ái V, sinh năm 1976; địa chỉ: số C (trước là số B) đường B, phường K, tỉnh Lạng Sơn; Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Hà Tiến Đ, ông Nguyễn Đức D, bà Ong Thị H2. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/7/2025, Công an phường K, tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận tố giác về tội phạm của cháu Lý Gia K, sinh năm 2008, là nhân viên phục vụ của quán TITAN, về việc trưa ngày 09/7/2025, cháu Lý Gia K bị người khác lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro, màu trắng. Sau khi tiếp nhận tố giác, Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát đối tượng tình nghi, đồng thời trích xuất camera giám sát của quán ăn T1 và xác định được Diệp Đức P là đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của cháu Lý Gia K. Trên cơ sở đó, Cơ quan điều tra đã triệu tập Diệp Đức P lên làm việc, kết quả Diệp Đức P thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 09/7/2025, Diệp Đức P một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAVE RSX, màu trắng đen, biển số 12P1 - 8924 đi từ đường B đến khu P thuộc phường K, tỉnh Lạng Sơn để trộm cắp tài sản. Khi đi qua quán ăn T1 trên đường L, phường K tỉnh Lạng Sơn, Diệp Đức P nhìn thấy trong quán không có ai trông coi nên P đi vào trong quán thì thấy cháu Lý Gia K đang nằm ngủ ở trên ghế trong phòng bên trái của quán và để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng ở cạnh người nên Diệp Đức P liền lấy trộm chiếc điện thoại này. Sau khi lấy trộm được điện thoại, Diệp Đức P điều khiển xe mô tô đến cửa hàng điện thoại Tráng Sĩ, địa chỉ tại số E, đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn, bán cho anh Hà Tiến Đ được 1.500.000 đồng, số tiền này Diệp Đức P đã sử dụng hết. Tiến hành làm việc với anh Hà Tiến Đ, anh Đ đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro, màu trắng, dung lượng 64GB, số IMEI 1: 353238100267789, ΙΜΕΙ 2: 353238100283588, đã qua sử dụng.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng-đen-đỏ, biển số 12P1-8924, số máy: JC43E6116510, số khung: 4325BY191841, đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu vàng đồng, số IMEI 1: 868714065230358, số ΙΜΕΙ 2: 868714065230341, đã qua sử dụng của Diệp Đức P.
Quá trình điều tra, Diệp Đức P khai nhận ngoài lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên, trước đó Diệp Đức P còn thực hiện các vụ trộm cắp tài sản như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ sáng, ngày 02/04/2025 Diệp Đức P một mình điều khiển xe mô biển số 12P1-8924 đi xuống khu vực đường T, phường K, tỉnh Lạng Sơn để trộm cắp tài sản. Khi đi qua quán FUJI PHÊ COFFEE, địa chỉ tại số A, đường T, phường K, tỉnh Lạng Sơn của bà Ngô Thị H1, sinh năm 1974, trú tại số A, đường T, phường K, tỉnh Lạng Sơn, Diệp Đức P nhìn thấy ở trong sân của quán có nhiều bộ bàn ghế sắt, không có người trông coi nên Diệp Đức P đã lấy 01 thang gỗ của thợ xây ở gần đó bắc qua hàng rào của quán để trèo vào trong sân lấy trộm 01 cái bàn và 04 cái ghế sắt đem đi cất giấu ở ống cống gần đó. Đến khoảng 18 giờ, ngày 02/4/2025 Diệp Đức P đem số bản ghế này bán cho một người phụ nữ không quen biết đang đi bộ thể dục ở bờ hồ P, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn được 400.000 đồng, số tiền này Diệp Đức P đã sử dụng hết.
- Vụ thứ hai: Khoảng 04 giờ sáng, ngày 02/5/2025 Diệp Đức P một mình điều khiển xe mô tô biển số 12P1-8924 đi đến khu vực đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà nghỉ T, địa chỉ tại số C, đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn, Diệp Đức P đi vào khu vực quầy lễ tân tầng một lục tìm tài sản thì thấy cháu Đào Nhật N, sinh năm 2012 và cháu Triệu Thị Kim N1, sinh năm 2005 đang nằm ngủ ở giường và cắm sạc điện thoại ở bên cạnh. Thấy vậy, Diệp Đức P liền lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 màu xanh của N và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím của Triệu Thị Kim N1. Đến trưa ngày 02/5/2025, Diệp Đức P đem hai chiếc điện thoại trên đi đến cửa hàng Đ1, địa chỉ tại số E, đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn bán cho Hà Tiến Đ được khoảng 2.000.000 đồng, số tiền này Diệp Đức P đã sử dụng hết.
- Vụ thứ ba: Khoảng 03 giờ, ngày 23/5/2025 Diệp Đức P một mình điều khiển xe mô tô biển số 12P1-8924 đi đến đường B, phường K, tỉnh Lạng Sơn để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà kho chứa đồ của anh Nguyễn Văn L4, ở đường B, phường K, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi quan sát, thấy cổng không khóa, biết không có ai trông coi nên Diệp Đức P đã đẩy cổng đi vào, dùng tay cậy cửa nhà kho chứa đồ rồi lấy trộm 02 máy khoan bê tông cầm tay, 01 máy hàn sắt cầm tay màu vàng, 01 máy hàn sắt cầm tay màu xanh, 01 máy hàn sắt cầm tay màu đỏ, 01 máy sấn sắt cầm tay màu xanh, 01 máy cắt sắt cầm tay màu xanh. Sau khi lấy trộm số máy trên, Diệp Đức P chở ra quán thu mua phế liệu của bà Ong Thị H2, sinh năm 1984 và ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1979. Do lúc này bà Ong Thị H2, ông Nguyễn Đức D chưa ngủ dậy, nên Diệp Đức P đã lấy bạt đậy lên số máy móc vừa trộm được rồi ngồi đợi đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, khi bà Ong Thị H2, ông Nguyễn Đức D dậy mở cửa thu mua sắt vụn thì Diệp Đức P đã bán số máy móc trên cho bà Ong Thị H2, ông Nguyễn Đức D được khoảng 1.000.000 đồng, số tiền này Diệp Đức P đã sử dụng hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 37/KL-HĐĐGTS ngày 17/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng, dung lượng 64GB, số IMEI 1: 353238100267789, số IMEI 2: 353238100283588, đã qua sử dụng, mua cũ ngày 07/9/2024, có giá trị là: 4.500.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 102/KL-HĐĐG ngày 23/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn kết luận:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, màu tím, dung lượng 128GB, mua cũ tháng 3/2025, đã qua sử dụng, có giá trị là 6.960.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu xanh, dung lượng 256GB, mua cũ tháng 3/2025, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.183.000 đồng.
- 01 cái bàn bằng sắt, mua mới tháng 3/2025, đã qua sử dụng, có giá trị là 260.000 đồng.
- 04 cái ghế bằng sắt, mua mới tháng 3/2025, đã qua sử dụng, có giá trị là 850.000 đồng.
- 01 máy sấn sắt cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Handy-25DC, mua cũ tháng 5/2025, đã qua sử dụng, có giá trị là 8.867.000 đồng.
- 02 máy khoan bê tông cầm tay màu đen, nhãn hiệu BOSC, mua mới tháng 01/2025, đã qua sử dụng, có giá trị là 1.262.000 đồng.
- Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn không tham khảo được giá đối với các tài sản là 01 máy cắt sắt cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Makita, mua mới tháng 12/2024; 01 máy hàn sắt cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Welder, mua mới tháng 11/2024; 01 máy hàn sắt cầm tay màu đỏ, nhãn hiệu Welder, mua mới tháng 11/2022 và 01 máy hàn sắt cầm tay màu vàng-cam, nhãn hiệu Welder, mua mới tháng 5/2025, đã qua sử dụng nên Hội đồng đã từ chối định giá theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 10 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP ngày 07/8/2018 của Chính phủ.
- Tại bản kết luận giám định số 899 ngày 10/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Hình ảnh trong các tập tin video gửi giám định không phát hiện cắt ghép, chỉnh sửa.
- Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 09/7/2025 của Công an phường K cho kết quả: Diệp Đức P âm tính với ma túy.
Ngày 19/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là cháu Lý Gia K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro, màu trắng, dung lượng 64GB, số IMEI 1: 353238100267789, IMEI 2: 353238100283588, đã qua sử dụng.
Đối với anh Hà Tiến Đ là người mua lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu trắng, dung lượng 64GB, số IMEI 1 353238100267789, só IMEI 2: 353238100283588, đã qua sử dụng từ Diệp Đức P ngày 09/7/2025. Quá trình điều tra xác định Hà Tiến Đ không biết chiếc điện thoại trên là tài sản do Diệp Đức P trộm cắp mà có. Đồng thời, ngay sau khi biết chiếc điện thoại trên là tài sản trộm cắp. Hà Tiến Đ đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra phục vụ quá trình điều tra nên không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Hà Tiến Đ.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, màu tím, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu xanh, dùng lượng 256GB, đã qua sử dụng do Diệp Đức P trộm cắp ngày 02/5/2025. Quá trình điều tra, Diệp Đức P khai anh Hà Tiến Đ là người đã mua lại 02 chiếc điện thoại trên. Tuy nhiên, Hà Tiến Đ khẳng định trước ngày 09/7/2025 bản thân chưa bao giờ giao dịch với Diệp Đức P và không được mua 02 chiếc điện thoại di động này. Ngày 24/9/2025, Cơ quan điều tra tiến hành đối chất giữa Hà Tiến Đ và Diệp Đức P. Quá trình đối chất Hà Tiến Đ và Diệp Đức P vẫn giữ nguyên lời khai. Nhận thấy, ngoài lời khai của Diệp Đức P, Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng và không có chứng cứ, tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Hà Tiến Đ.
- Đối với bà Ong Thị H2 và ông Nguyễn Đức D là chủ cửa hàng thu mua phế liệu trên địa bàn phường T, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình điều tra mặc dù Diệp Đức P khai nhận sau khi trộm được các máy khoan bê tông, máy cắt sắt, máy sấn sắt, máy hàn của anh Nguyễn Văn L4 vào ngày 23/5/2025, Diệp Đức P đã đem số máy trên đến bán cho bà Ong Thị H2 và ông Nguyễn Đức D. Tuy nhiên bà Ong Thị H2 và ông Nguyễn Đức D đều khẳng định bản thân không được thu mua các máy móc trên của Diệp Đức P. Nhận thấy, ngoài lời khai của Diệp Đức P, cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng và không có chứng cứ, tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với bà Ong Thị H2 và ông Nguyễn Đức D.
- Đối với người phụ nữ mua 01 chiếc bàn sắt và 04 chiếc ghế sắt của Diệp Đức P tại bờ hồ P, đường L, phường T, tỉnh Lạng Sơn ngày 02/4/2025. Do Diệp Đức P không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy tìm, thu giữ vật chứng và không có căn cứ xem xét, xử lý.
- Đối với hành vi Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 02/4/2025 tại số nhà A đường T, phường K, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình điều tra xác định tài sản Diệp Dức P trộm cắp có giá trị được định giá là 1.110.000 đồng chưa cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Qua đối chiếu nhân thân của Diệp Đức P, xác định tại thời điểm thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản trên thì trước đó Diệp Đức P đã có nhiều tiền án, tiền sự nhưng đều đã được xóa án tích nên ngày 26/9/2025, Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 06/QĐ-XPHC đối với Diệp Đức P về hành vi “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 – Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ với mức phạt 2.500.000 đồng. Diệp Đức P chưa thực hiện việc nộp phạt.
- Đối với vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 23/5/2025 tại đường B, phường K, tỉnh Lạng Sơn. Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn chỉ định giá được 02 máy khoan bê tông cầm tay màu đen, nhãn hiệu BOSC, mua mới tháng 01/2025, đã qua sử dụng có giá trị được định giá là 1.262.000 đồng và 01 máy sấn sắt cầm tay màu xanh, nhãn hiệu Handy-25DC, mua cũ tháng 5/2025, đã qua sử dụng có giá trị là 8.867.000 đồng, tổng cộng giá trị tài sản là 10.129.000 đồng. Các tài sản còn lại, do không xác định được nguồn gốc cụ thể, không xác định được nhãn hiệu, thông số kỹ thuật và không thu giữ được vật chứng nên Hội đồng định giá không tham khảo được giá của các tài sản này do đó Hội đồng đã từ chối định giá.
- Đối với xe môtô biển số 12P1 – 8924, Diệp Đức P sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của Diệp Ái V là em gái của bị can. Do P không có xe đi lại nên khi P mượn V chiếc xe trên V đã đồng ý. Đồng thời, bản thân V hoàn toàn không biết P sử dụng chiếc xe trên để đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Diệp Ái V nhưng đã tạm giữ chiếc xe này để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
- Về vấn đề bồi thường dân sự:
+ Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro, màu trắng, dung lượng 64GB, số IMEI 1: 353238100267789, IMEI 2: 353238100283588, đã qua sử dụng do Hà Tiến Đ tự nguyện giao nộp. Chiếc điện thoại này, bị hại Lý Gia K đã tự trao đổi thỏa thuận và trả cho Hà Tiến Đ số tiền 1.500.000 đồng. Do đó, bị hại Lý Gia K yêu cầu Diệp Đức P bồi thường số tiền 1.500.000 đồng.
+ Bị hại Đào Nhật N yêu cầu bồi thường số tiền 1.183.000 đồng.
+ Bị hại Triệu Thị Kim N1 yêu cầu bồi thường số tiền 6.960.000 đồng.
+ Bị hại Ngô Thị H1 yêu cầu bồi thường số tiền 1.110.000 đồng.
+ Bị hại Nguyễn Văn L4 yêu cầu bồi thường theo kết quả định giá tài sản. Còn đối với các tài sản Hội đồng định giá tài sản thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lạng Sơn từ chối định giá, bị hại Nguyễn Văn L4 không có ý kiến gì về kết luận đinh giá tài sản và yêu cầu Diệp Đức P phải bồi thường số tiền từ 15.000.000 đồng đến 17.000.000 đồng trên toàn bộ số tài sản, máy móc bị Diệp Đức P lấy trộm.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-KV1 ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Diệp Đức P về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cháu Lý Gia K 1.500.000đồng, cháu Đào Nhật N 1.183.000 đồng, cháu Triệu Thị Kim N1 6.960.000 đồng và ông Nguyễn Văn L4 số tiền 15.000.000đồng.
Bị hại Lý Gia K vắng mặt tại phiên toà, tại cơ quan điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cháu Lý Gia K và người đại diện hợp pháp bà Trịnh Quốc L đều trình bày: Ngày 09/7/2025 cháu Lý Gia K mất chiếc điện thoại Iphone 11 Pro tại quán TiTan, sau khi biết bị cáo là người lấy trộm đã trình báo Công an, sau đó có trao đổi với anh Hà Tiến Đ với số tiền 1.500.000đồng để anh Hà Tiến Đ giao nộp chiếc điện thoại cho Công an. Cháu Lý Gia K đã nhận được điện thoại và đề nghị bị cáo bồi thường 1.500.000đồng, xét xử bị cáo đúng quy định pháp luật.
Bị hại cháu Đào Nhật N vắng mặt tại phiên toà, tại cơ quan điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cháu Đào Nhật N, người đại diện anh Vy Nhất L2 đều trình bày: Ngày 02/5/2025 cháu Đào Nhật N để một chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo F7 màu xanh đang sạc ở cuối giường, còn chị Triệu Thị Kim N1 ngủ gần giường của cháu Đào Nhật N, cũng để chiếc điện thoại Iphone 11 màu tím ở cạnh đầu, đến 6h30 sáng chị Triệu Thị Kim N1 ngủ dậy không thấy điện thoại đâu đã kiểm tra camera phát hiện có người đàn ông mặc áo chùm kín đầu lấy hai chiếc điện thoại của cháu và chị Triệu Thị Kim N1. Chiếc điện thoại của cháu mua cũ tháng 3 năm 2025 với giá 1.800.000đồng. Anh Vy Nhất L2 là anh ruột của cháu. Cháu yêu cầu bồi thường theo đúng quy định pháp luật.
Bị hại Triệu Thị Kim N1 trình bày tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 6.960.000 đồng, xem xét xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị hại Nguyễn Văn L4 trình bày tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đề nghị giữ nguyên yêu cầu bồi thường như đã trình bày trước đó, xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị H1 trình bày tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt: Bà Ngô Thị H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Diệp Ái V trình bày: Bà là em ruột của bị cáo Diệp Đức P và là chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển kiểm soát 12P1 -8924, ngày 09/7/2025 bà để chiếc xe trên ở nhà, không cho bị cáo mượn đi nhưng bị cáo tự ý mang đi sử dụng vào việc gì, bà không biết.
Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Diệp Đức P phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản riêng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng-đen-đỏ, biển số 12P1-8924, số máy: JC43E6116510, số khung: 4325BY191841, đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Diệp Ái V; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu vàng đồng, số IMEI 1: 868714065230358, số ΙΜΕΙ 2: 868714065230341, đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lý Gia K số tiền 1.500.000đồng; bồi thường cho bị hại Đào Nhật N số tiền 1.183.000đồng; bồi thường cho bị hại Triệu Thị Kim N1 số tiền 6.960.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Văn L4 15.000.000đồng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng và chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đào Nhật N trình bày:
Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa hôm nay đã làm rõ về hành vi trộm cắp của bị cáo Diệp Đức P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Đào Nhật N không có ý kiến gì về tội danh, hình phạt của bị cáo. Theo kết luận giám định, chiếc điện thoại của cháu Đào Nhật N bị bị cáo trộm cắp có giá trị 1.183.000 đồng; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Đào Nhật N số tiền 1.183.000 đồng.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình, để lao động sớm khắc phục hậu quả cho các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Ngô Thị H1 cùng những người làm chứng, tuy nhiên những người vắng mặt đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; hơn nữa, quá trình điều tra những người vắng mặt đều đã có lời khai có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt của các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Ngô Thị H1 cùng những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản xác định hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 09/7/2025, tại quán ăn T1 trên đường L, phường K tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Diệp Đức P có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút lấy một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu hãn hiệu Iphone 11 Pro màu trắng của cháu Lý Gia K với giá trị 4.500.000 đồng. Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện khai báo đã thực hiện hành vi trộm cắp khác, cụ thể:
Ngày 02/5/2025, tại nhà nghỉ T ở số C, đường L, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Diệp Đức P trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 màu xanh của của cháu Đào Nhật N với giá trị 1.183.000đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím của chị Triệu Thị Kim N1 với giá trị 6.960.000đồng, tổng giá trị 02 chiếc điện thoại là 8.143.000 đồng;
Ngày 23/5/2025 tại đường B, phường K, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Diệp Đức P trộm cắp 02 máy khoan bê tông cầm tay màu đen có giá trị là 1.262.000 đồng, 01 máy hàn sắt cầm tay màu vàng, 01 máy hàn sắt cầm tay màu xanh giá trị là 8.867.000 đồng, tổng cộng giá trị tài sản là 10.129.000 đồng, ngoài ra, bị cáo còn lấy trộm 01 máy hàn sắt cầm tay màu đỏ, 01 máy sấn sắt cầm tay màu xanh, 01 máy cắt sắt cầm tay màu xanh nhưng không định giá được giá trị do không xác định được nguồn gốc cụ thể, không xác định được nhãn hiệu, thông số kỹ thuật và không thu giữ được vật chứng.
Tổng giá trị trộm cắp là 22.776.000đồng.
Xét thấy, 03 lần trộm cắp tài sản của bị cáo đều độc lập về mặt thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi phạm tội, chủ thể quản lý tài sản cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Trong đó, mỗi lần thực hiện hành vi trộm cắp của bị cáo đều cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng giá tài sản đã trộm cắp là 22.776.000đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều đã từng bị kết án nên bị cáo biết rõ hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện là thể hiện thái độ coi thường pháp luật, vì vậy cần xử lý nghiêm minh bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, trong đó cần xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự thú các hành vi phạm tội trước đó nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố mẹ đẻ được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến, bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp, mỗi lần thực hiện trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, ngoài ra, bị cáo trộm cắp tài sản của bị hại dưới 16 tuổi nên còn phải chịu thêm tăng nặng theo điểm i khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo nhiều lần bị kết án, xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản đã được xóa nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định phù hợp với hành vi bị cáo gây ra.
Về hình phạt bổ sung, theo kết quả xác minh tại nơi cư trú của bị cáo cho thấy bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bị cáo nhận bản thân có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại như yêu cầu của các bị cáo, do đó cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại cháu Lý Gia K số tiền 1.500.000đồng, cháu Đào Nhật N số tiền 1.183.000đồng, chị Triệu Thị Kim N1 số tiền 6.960.000đồng; anh Nguyễn Văn L4 số tiền 15.000.000đồng.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị H1, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại đối với bộ B bị trộm cắp, hơn nữa hành vi trộm cắp này của bị cáo được xử lý hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về việc xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng-đen-đỏ, biển số 12P1-8924 của bà Diệp Ái V, do bị cáo tự ý sử dụng vào việc phạm tội, bà Diệp Ái V không biết, cần xem trả lại cho bà Diệp Ái V; đối với 01 điện thoại Oppo A38 thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với hành vi của bị cáo trộm cắp bộ bàn ghế của bà Ngô Thị H1, đã được xem xét xử lý hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án.
Đối với anh Hà Tiến Đ, là người giao nộp chiếc điện thoại Iphone 11 của cháu Lý Gia K, khi mua không biết tài sản do trộm cắp mà có, không thừa nhận được mua điện thoại với bị cáo lần nào khác nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án.
Đối với bà Ong Thị H2, ông Nguyễn Đức D và người phụ nữ mua bộ bàn ghế với bị cáo, do cơ quan điều tra không có cơ sở xác định có liên quan trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và người có trách nhiệm bồi thường với tổng số tiền 24.643.000đồng nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 1 - Lạng Sơn đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, i khoản 1 Điều 52; Điều 38, 50; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Diệp Đức P phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Diệp Đức P 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 09/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
- Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lý Gia K số tiền 1.500.000đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng);
- Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Đào Nhật N số tiền 1.183.000đồng (một triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng);
- Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Triệu Kim N1 số tiền 6.960.000đồng (sáu triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng);
- Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn L4 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng).
4. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bà Diệp Ái V 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu trắng-đen-đỏ, biển số 12P1-8924, số máy: JC43E6116510, số khung: 4325BY191841, đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa.
- Trả lại cho bị cáo Diệp Đức P 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu vàng đồng, số IMEI 1: 868714065230358, số ΙΜΕΙ 2: 868714065230341, đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
5. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và chịu 1.232.000đồng (một triệu hai trăm ba mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Công an tỉnh Lạng Sơn; - CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn; - Trại tạm giam CA tỉnh Lạng Sơn; - VKSND KV 1 - Lạng Sơn; - Phòng THADS KV 1 - Lạng Sơn; - Bị cáo; bị hại; NCQLNVLQ; NBVQLIHP - Lưu hồ sơ, HCTP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Phƣơng Thảo THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Chu Thị Phƣơng Thảo |