- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh K - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2025/HS-PT Ngày 16-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Thành
Bà Võ Thị Mỹ Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thư Linh - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thanh K do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2025/HS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long).
- Bị cáo bị kháng nghị: Nguyễn Thanh K, sinh năm 2004 tại tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long); nơi đăng ký thường trú: Số 13, Khóm 7, Phường 6, thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Số 13, Khóm 7, phường Trà V, tỉnh Vĩnh Long); nơi cư trú: Số 289, Khóm 8, Phường 6, thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Số 289, Khóm 8, phường Trà V, tỉnh Vĩnh Long); trình độ học vấn: lớp 11/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1976 và bà Kim Thị Hồng L, sinh năm 1975; vợ: Phòng Huệ H, sinh năm 1999; con có 01 người sinh năm 2024; tiền sự: không; tiền án: không;
Nhân thân:
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 05/9/2020 bị Trưởng C an Phường 3, thành phố Trà V, tỉnh Trà V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự C cộng”;
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/QĐ-XPHC ngày 23/7/2021 bị Trưởng C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”;
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 90 ngày 18/10/2021 bị Trưởng C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”;
+ Tại Bản án số 06/2022/HS-ST ngày 25/01/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Trà V, tỉnh Trà V tuyên phạt 09 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” (do thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự được coi là không có án tích).
Bị tạm giam từ ngày 27/8/2024 đến ngày 27/6/2025 được trả tự do; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Tuấn L là Luật sư - Văn phòng luật sư Lê Khanh thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Cần Thơ; có mặt.
(Ngoài ra; trong vụ án còn có các bị cáo Thạch Thành C, Trần Quang T, Nguyễn Phú L, Lý Kim Y và Lâm Tuấn Kt nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 19/4/2024, bị cáo Thạch Thành C đến nhà của ông Nguyễn Quốc V, sinh ngày 03/02/1971, nơi thường trú tại ấp Kỳ La, xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành, tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) để uống bia cùng với ông V và Huỳnh Thanh K, sinh ngày 10/11/1981, nơi thường trú tại ấp Chợ, xã Phương Thạnh, huyện Càng Long, tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long). Tại đây, bị cáo C có khuyên con ruột của ông V là Nguyễn Phú Q, sinh ngày 08/12/2004, nơi thường trú tại Số 14, Khóm 1, Phường 6, thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) không chơi chung với bị cáo Trần Quang T, rồi bị cáo C gọi điện thoại cho bị cáo T thông qua ứng dụng video call để nói chuyện nhưng do bị cáo C ra vẻ đàn anh, hạ thấp uy tín của bị cáo T nên dẫn đến đôi bên xảy ra mâu thuẫn. Thời điểm này, Quí và bị cáo T nhắn tin lên nhóm “Anh Em” thông qua ứng dụng Mesenger thông tin rằng bị cáo C kiếm chuyện chửi bởi bị cáo T vô cớ và đòi chém anh em trong nhóm nên bị cáo Nguyễn Thanh K liền gợi ý tụ tập các thành viên trong nhóm đến hẻm “Chuồng Cu” gần nhà bị cáo T để chém lại nhóm của bị cáo C. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/4/2024, bị cáo C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI (C), màu trắng - đen, biển số 84B2 - 124.19 đi đến đầu hẻm Số 286 trên đường Phan Đình Phùng, Khóm 1, Phường 7, thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Khóm 1, Phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long) và liên tục gọi điện thoại kêu bị cáo T ra nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Trong lúc chờ đợi nhóm của bị cáo T thì bị cáo C được người bạn là Lê Chí Hiếu, sinh ngày 09/02/1991, nơi thường trú tại Số 51, Khóm 3, Phường 1, thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) tìm kiếm và khuyên nhủ đi về nhà nhưng bị cáo C không đồng ý và nhất quyết phải gặp nhóm của bị cáo T nói chuyện giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 15 phút sau, bị cáo Nguyễn Phú L cầm theo cây súng ngắn (màu trắng), bị cáo T cầm theo cây ống tuýp sắt dài 01m và Q không mang theo hung khí gì đi bộ từ nhà của bị cáo T ra đầu hẻm để đánh nhau với bị cáo C. Khi đến nơi, bị cáo L hỏi bị cáo C rằng“Anh muốn sao?”, thì ngay lập tức bị bị cáo C cầm dao chém vào người 01 nhát theo hướng từ trên xuống nên bị cáo L dùng tay trái giơ lên đỡ khiến bị cáo L bị thương tích ở ngón áp út và ngón giữa của bàn tay trái. Thấy vậy, bị cáo L ngay lập tức cầm súng bắn liên tiếp 02 phát trúng vào vùng hạ sườn phải và mặt trước ngoài cánh tay trái của bị cáo C khiến C bị thương tích và rớt cây dao đang cầm xuống nền gạch vỉa hè. Cùng lúc này, bị cáo Lý Kim T vừa điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 150, màu nâu, biển số 84B2-085.93 chở vợ là Thạch Thị Sa P, sinh ngày 18/8/1993, nơi thường trú tại ấp Đa Cần, xã Hòa T, huyện Châu T, tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) chạy đến. Thấy vậy, bị cáo T đưa xe cho Sa Phai chạy vào trong hẻm trước, còn bản thân tiến đến nhặt lấy cây dao mà bị cáo C vừa làm rớt và lớn tiếng hỏi bị cáo C “Làm gì chém Cò Vàng?”. Khi thấy bị cáo C tiếp tục tỏ vẻ thách thức thì bị cáo Thành liền cầm dao chém liên tiếp khoảng 02 nhát vào người của bị cáo C với lực mạnh và theo chiều từ trên xuống, trong đó 01 nhát chém bằng bề sống lưỡi dao không rõ trúng vị trí nào và nhát còn lại chém bằng bề bén lưỡi dao trúng vào vùng mặt trước ngoài cánh tay phải của bị cáo C gây ra thương tích chảy máu. Thời điểm này, bị cáo Nguyễn Thanh K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario 125, màu trắng - đen - nâu, biển số 84B2 - 133.62 chở bị cáo Lâm Tuấn Kiệt vừa chạy đến, do nhìn thấy bị cáo L bị thương tích và được nghe thông tin người vừa chém bị cáo L là bị cáo C nên Kiệt liền tháo nón bảo hiểm, màu xanh đang đội trên đầu xông vào đánh bị cáo C 01 cái nhưng không trúng, còn bị cáo K cũng xông vào dùng tay không đánh bị cáo C 01 cái nhưng cũng trượt. Lúc này, do nhìn thấy gần nơi bị cáo C đứng có cây dao bị rớt dưới nền lộ nhựa, sợ rằng bị cáo C nhặt cây dao này tấn C lại nhóm mình nên bị cáo K tiến đến xô đẩy qua lại với bị cáo C khiến C tiếp tục nổi nóng và lớn tiếng chửi bới chỉ với một nội dung: “Anh đi có một mình mà mày kêu mấy thằng em của mày bắn và chém anh như vậy là mày bậy lắm nha Cò Đỏ”. Thấy vậy, bị cáo T cũng liên tục lớn tiếng với bị cáo C với nội dung chủ yếu đôi co về lý do bị cáo C bị chém và bắn. Cùng lúc, Nguyễn Tấn Dũng, sinh ngày 20/02/2004, nơi thường trú tại Số 64/11, Khóm 1, Phường 4, thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) và Phạm Thanh Duy (sinh ngày 01/01/1998, nơi thường trú tại ấp Kinh Đào, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau) do nhìn thấy tin nhắn trên nhóm “Anh Em” nên cũng điều khiển xe máy chạy tới định đánh nhau với nhóm của bị cáo C, nhưng do thấy mọi chuyện đã xong và bị cáo T cũng lớn tiếng kêu các thành viên dừng lại nên D và B mới điều khiển xe máy chở bị cáo L vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) để cấp cứu. Trước khi rời đi, bị cáo L có cất cây súng ngắn vừa dùng để bắn bị cáo C trong bịch ni lông màu đen và đưa cho bị cáo Thành cất giữ. Do không biết rõ bên trong là gì nên bị cáo Thành đã đem vứt bỏ bịch ni lông này vào lùm cây cạnh cái cống gần nhà, rồi về nhà ngủ. Sau đó, vì thấy chồng mình là Thạch Thành C bị bắn và chém gây thương tích nên chị Nguyễn Thị Sáng, sinh ngày 26/5/1992, nơi thường trú tại ấp Phú Hưng 2, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) đến Cơ quan C an trình báo sự việc. Riêng bị cáo C sau khi được phẫu thuật thì bác sĩ đã lấy ra từ vùng bụng của bị cáo C 01 viên nhựa cứng, có kích thước 0,5cm x 0,7cm và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là C an tỉnh Vĩnh Long). Đến ngày 22/4/2024, sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra vận động thì bị cáo L và bị cáo Thành cũng đã đưa 01 cây súng ngắn bằng kim loại, màu trắng, thân súng dài 12cm và 02 vỏ đạn bằng kim loại, màu vàng, dài 02cm, đường kính 0,6cm, đích vỏ đạn có khắc chữ “YAS OLD PAK 9mm” là tang vật của vụ việc cho bị cáo T đem giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là C an tỉnh Vĩnh Long) phục vụ quá trình điều tra vụ án.
* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 98/KLTTCT-2024 ngày 04/5/2024 của T tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) đối với thương tích của Thạch Thành C kết luận:
- Các kết quả chính: Vết thương còn chỉ khâu vùng mặt trước ngoài cánh tay phải. Tỷ lệ 02% (hai phần trăm); Vết thương còn chỉ khâu vùng mặt trước ngoài cánh tay trái. Tỷ lệ 02% (hai phần trăm) và vết thương còn chỉ khâu vùng hạ sườn phải. Tỷ lệ 01% (một phần trăm).
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Thạch Thành C tại thời điểm giám định là 05% (năm phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 181/KLTTCT-2024 ngày 28/6/2024 của T tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Trà V (nay là tỉnh Vĩnh Long) đối với thương tích trên cơ thể Nguyễn Phú L kết luận:
- Các kết quả chính: Gãy xương bàn ngón III bàn tay trái. Tỷ lệ 06% (sáu phần trăm) và sẹo T bình vùng mu bàn tay trái. Tỷ lệ 02% (hai phần trăm).
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Phú L tại thời điểm giám định là 08% (Tám phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Cơ chế hình thành vết thương trên người ông Nguyễn Phú L là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích là vật cứng có cạnh sắc và hướng tác động là từ trên xuống.
* Tại Kết luận giám định số: 2969/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C an kết luận:
- Khẩu súng gửi giám định là C cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc loại súng ngắn ổ quay chế tạo thủ C bắn đạn cao su cỡ 09mm x 22mm, không phải là vũ khí quân dụng.
- 02 (hai) vỏ đạn gửi giám định là vỏ của đạn cao su cỡ 09mm x 22mm, không phải là vũ khí quân dụng. Đạn cao su cỡ 09mm x 22mm sử dụng được cho khẩu súng nêu trên.
- 01 (một) viên nhựa gửi giám định là đầu đạn của đạn cao su cỡ 09mm x 22mm, không phải là vũ khí quân dụng. Không đủ cơ sở xác định đầu đạn này có phải được bắn ra từ khẩu súng nêu trên hay không.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lâm Tuấn Kiệt, Lý Kim Thành và Nguyễn Phú L thuộc trường hợp tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Không.
+ Những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:
Do bị cáo Thạch Thành C đã nhận từ các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Phú L, Lý Kim Thành, Nguyễn Thanh K và Lâm Tuấn Kiệt tổng số tiền bồi thường là 200.000.000 đồng; trong đó bị cáo T bồi thường 50.000.000 đồng, bị cáo L bồi thường 50.000.000 đồng, bị cáo Thành bồi thường 50.000.000 đồng, bị cáo K bồi thường 25.000.000 đồng và bị cáo Kiệt bồi thường 25.000.000 đồng, nên về phần dân sự đôi bên thống nhất không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với hành vi gây thương tích cho các bị cáo Thạch Thành C và Nguyễn Phú L với tỷ lệ tổn thương cơ thể lần lượt 05% và 08%. Do ngày 31/7/2024, bị cáo Thạch Thành C và bị cáo Nguyễn Phú L đều đã làm đơn xin rút lại đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự những người có liên quan về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, do hành vi của những người có liên quan đến vụ việc này có dấu hiệu vi phạm hành chính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V đã ra văn bản đề nghị Trưởng C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo Thạch Thành C và bị cáo Lý Kim Thành về hành vi cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát điều tra - C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V cũng đã có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trà V, tỉnh Trà V xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Phú L về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép C cụ hỗ trợ và cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 4 Điều 11 và điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với Nguyễn Phú Quí, Nguyễn Tấn Dũng và Phạm Thanh Duy tuy có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án nhưng không có bất kì hành động gì và cũng không tham gia vào vụ việc trên nên không xem xét xử lý.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là C an tỉnh Vĩnh Long) đã tạm giữ:
- 01 (một) cây súng ngắn bằng kim loại, màu trắng, thân súng dài 12cm, nòng súng dài 04cm và đường kính 01cm, báng súng bằng nhựa, màu đen, dài 08cm, ổ đạn bằng kim loại hình tròn, màu trắng, chứa được 06 viên đạn.
- 02 (hai) vỏ đạn bằng kim loại, màu vàng, dài 02cm, đường kính 0,6cm, đích vỏ đạn có khắc chữ “YAS OLD PAK 9mm”.
- 01 (một) viên nhựa cứng, màu đen, kích thước 0,5cm x 0,7cm.
- 01 (một) ống tuýt sắt dài 01m, đường kính 2,5cm đã bị gỉ sét.
- 01 (một) nón bảo hiểm, màu xanh, phía sau nón bảo hiểm có dòng chữ: “mobifone” “KẾT NỐI GIÁ TRỊ - KHƠI DẬY TIỀM NĂNG”.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI (C), màu trắng đen, biển số 84B2 - 124.19, số máy: JC09E0426416, số khung: RLHJC7650PY114731, tình trạng xe đã cũ và qua sử dụng, không kính chiếu hậu.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng bị vỡ kính cường lực ở góc phải màn hình, tên kiểu máy Iphone XS, số máy MTAH2LL/A.
- 01 (một) đôi dép kẹp, mặt đế màu đỏ, quai đen đã qua sử dụng, đế dép có kích thước dài 26cm, phần gót chân rộng 7,5cm, phần các ngón chân rộng 10cm, trên dép chân trái có dính chất nâu đỏ, nghi máu.
* Về xử lý vật chứng:
- Ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V đã trả lại cho bà Hà Thị Thu T, sinh ngày 15/10/1966, nơi thường trú tại ấp Vĩnh Hội, xã Long Đức, thành phố Trà V, tỉnh Trà V: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng bị vỡ kính cường lực ở góc phải màn hình, tên kiểu máy Iphone XS, số máy MTAH2LL/A.
- Ngày 30/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - C an thành phố Trà V, tỉnh Trà V đã trả lại cho bà Nguyễn Thị S, sinh ngày 26/5/1992, nơi thường trú tại ấp Phú Hưng 2, xã Bình Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà V: 01 (một) đôi dép kẹp, mặt đế màu đỏ, quai đen đã qua sử dụng, đế dép có kích thước dài 26cm, phần gót chân rộng 7,5cm, phần các ngón chân rộng 10cm, trên dép chân trái có dính chất nâu đỏ, nghi máu.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2025/HS-ST ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long) đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Gây rối trật tự C cộng”;
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 298; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 10 tháng tù;
Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Thạch Thành C, Trần Quang T, Nguyễn Phú L, Lý Kim T và Lâm Tuấn K, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11/7/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2025/HS-ST ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long) về khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh K. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm theo hướng xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K theo khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS ngày 11/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long.
- Bị cáo Nguyễn Thanh K trình bày lời khai: Khi thấy Nguyễn Phú Quí nhắn tin trên nhóm “Anh em” rằng “Em đang nhậu với anh C Lát mà tự nhiên ổng điện cho anh đòi mai qua dẹp bầy cò”, và Cò Đỏ (Trần Quang T) cũng nhắn tin trả lời rằng “Không làm gì hết mà anh C Lát (Thạch Thành C) cũng rủ ra chém lộn nữa, đòi dẹp bầy cò”. Bị cáo nhắn tin trên nhóm rằng “Để em gom mấy anh em cho” nhưng không có ai trả lời, nghĩa là bị cáo có ý định gom mấy anh em trong nhóm đi chém anh C trả thù cho anh Cò Đỏ. Sau đó Quí điện thoại hỏi bị cáo “Lại chưa”, bị cáo trả lời “Đợi xíu, tao với Kiệt chạy lại”, bị cáo điều khiển xe chở Lâm Tuấn Kiệt đi tới địa điểm ngã ba Chuồng Cu trong con hẻm trên đường Phan Đình Phùng định họp mặt mấy anh em lại chuẩn bị đi đánh nhau với nhóm của anh C. Như mọi khi hung khí sẽ được anh em gom lại tại địa điểm ngã ba Chuồng Cu nên bị cáo và Kiệt không cần mang theo hung khí. Khi đến đầu hẻm Số 286, bị cáo thấy Cò Vàng (Nguyễn Phú L) bị thương tích ở tay, nhiều người trong nhóm nói Cò Vàng bị anh C chém nên bị cáo dùng tay đánh vào người anh C 01 cái nhưng không trúng, lúc này anh C nói “Anh có một mình mà mày để mấy em của mày đánh anh nghe Cò Đỏ”, bị cáo có tiến đến dùng tay xô anh C ra, sau đó C an mời làm việc. Bị cáo không đồng ý với Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát.
- Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS ngày 11/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long làm trong hạn luật định. Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Gây rối trật tự C cộng” theo Điều 318 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, qua chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo Nguyễn Thanh K là người biết rõ cuộc mâu thuẫn giữa nhóm của bị cáo Trần Quang T với bị cáo Thạch Thành C thể hiện qua đoạn tin nhắn trên nhóm Facebook “Anh em” là: “Anh có cần em gom anh em lại không, để em gom”; sau đó bị cáo K với bị cáo Lâm Tuấn Kiệt cùng đi trên 01 xe mô tô đến hiện trường, khi đến nơi bị cáo K và bị cáo Kiệt thấy các bị cáo khác trong nhóm sử dụng hung khí để tấn C bị cáo Thạch Thành C nhưng bị cáo K vẫn xông đến dùng tay đánh bị cáo C, điều này thể hiện sự thống nhất ý chí của bị cáo K và các bị cáo khác trong nhóm, vì vậy bị cáo Nguyễn Thanh K phải chịu trách nhiệm đồng phạm với các bị cáo khác, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là chưa đúng với khoản của Điều luật quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS ngày 11/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, sửa Bản án sơ thẩm về khung hình phạt và tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh K. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự C cộng”, được khấu trừ thời gian bị tạm giam trước, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bị cáo không tranh luận.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh K tranh luận: Bản cáo trạng không thể hiện rõ vai trò đồng phạm của các bị cáo, chỉ đề nghị truy tố các bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm nhận định hành vi của bị cáo là tự phát, không có chuẩn bị hung khí. Quá trình điều tra không thể hiện rõ việc chuẩn bị hung khí. Hành vi của bị cáo chỉ ở mức dùng tay đánh bị cáo C nhưng không trúng và hành vi này chỉ là tự phát. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận thống nhất ý chí đi đánh nhau, nhưng việc thống nhất ý chí sử dụng hung khí là chưa rõ. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát là không phù hợp với Bản kết luận điều tra, Bản cáo trạng và hành vi phạm tội của bị cáo K, mà hành vi của bị cáo K chỉ phạm tội ở khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo rất ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi của mình đã gây ảnh hưởng đến trật tự C cộng xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận và có lỗi. Xin Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm để bị cáo có điều kiện sớm về nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS ngày 11/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long làm trong thời hạn kháng nghị phù hợp với quy định tại Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo kết hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/4/2024, tại khu vực thuộc Khóm 1, Phường 7, thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Khóm 1, Phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long). Các bị cáo Thạch Thành C, Trần Quang T, Nguyễn Phú L, Lý Kim Thành, Nguyễn Thanh K, Lâm Tuấn Kiệt đã có hành vi chửi bới lớn tiếng và dùng hung khí gồm dao tự chế, ống tuýp sắt và súng bắn đạn cao su để đánh nhau làm mất an ninh trật trự tại địa phương, làm người dân sống gần khu vực rất hoang mang, lo lắng.
Về tội danh và hình phạt:
Bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự; đã cùng với các bị cáo khác thực hiện hành vi dùng hung khí là dao tự chế, ống tuýp sắt và súng bắn đạn cao su để đánh nhau làm mất an ninh trật trự tại địa phương, làm người dân sống gần khu vực rất hoang mang, lo lắng; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự C cộng xã hội, gây mất an ninh, trật tự ở địa phương. Với ý thức, hành vi, hung khí gây án và hậu quả xảy ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Gây rối trật tự C cộng” theo Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Toà án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Nguyễn Thanh K không biết trước được sự việc và khi đi đến con hẻm 286 bị cáo không có đem theo hung khí và chỉ dùng tay đánh Thạch Thành C nhưng không trúng, xét thấy đây là hành vi tự phát không có chuẩn bị trước. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Thanh K về tội “Gây rối trật tự C cộng” theo khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là chưa xem xét hết vai trò đồng phạm của bị cáo, vì bị cáo K không biết trước sự việc, cũng không dùng hung khí đánh nhau, do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh K chỉ phạm tội “Gây rối trật tự C cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thanh K với vai trò giúp sức, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 298, khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 10 tháng tù; trả tự do cho bị cáo Nguyễn Thanh K tại phiên tòa.
Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS ngày 11/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm theo hướng xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K theo khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự, thấy rằng:
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh K tại phiên tòa phúc thẩm kết hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thanh K là người biết rõ cuộc mâu thuẫn giữa nhóm của bị cáo Trần Quang T với bị cáo Thạch Thành C khi thấy Nguyễn Phú Q nhắn tin trên nhóm “Anh em” trên Messenger rằng “Em đang nhậu với anh C Lát mà tự nhiên ổng điện cho anh đòi mai qua dẹp bầy cò”, và Cò Đỏ (Trần Quang T) cũng nhắn tin trả lời rằng “Không làm gì hết mà anh C Lát cũng rủ ra chém lộn nữa, đòi dẹp bầy cò”; bị cáo K cũng nhắn tin trên nhóm rằng “Để em gom mấy anh em cho”, nghĩa là bị cáo K có ý định gom mấy anh em trong nhóm đi chém C Lát (Thạch Thành C) trả thù cho anh Cò Đỏ (Trần Quang T); khi Quí điện thoại hỏi bị cáo K “Lại chưa” thì bị cáo K trả lời “Đợi xíu, tao với Kiệt chạy lại”, bị cáo K nhận thức được rằng những lần trước gom anh em đi đánh nhau cũng ở ngã ba Chuồng Cu trong con hẻm trên đường Phan Đình Phùng nên lần này bị cáo K nghĩ rằng nhóm của bị cáo cũng hẹn nhau ra địa điểm này để chuẩn bị đánh nhau, vì vậy bị cáo K điều khiển xe chở bị cáo Lâm Tuấn Kiệt đi tới địa điểm này định họp mặt mấy anh em lại chuẩn bị đi đánh nhau với nhóm của C Lát, và như mọi khi hung khí sẽ được anh em gom lại tại địa điểm ngã ba Chuồng Cu nên bị cáo K và bị cáo K không cần mang theo hung khí; sau đó bị cáo K với bị cáo Kiệt cùng đi trên 01 xe mô tô đến hiện trường, khi đến nơi bị cáo K và bị cáo Kiệt thấy các bị cáo khác trong nhóm sử dụng hung khí để tấn C bị cáo Thạch Thành C nhưng bị cáo K vẫn xông đến dùng tay đánh bị cáo C mặc dù không trúng, rồi tiến đến dùng tay xô bị cáo C ra dẫn tới đôi bên có xô đẩy qua lại; điều này đã thể hiện sự thống nhất ý chí trong việc sử dụng hung khí để đánh bị cáo C của bị cáo K và các bị cáo khác trong nhóm, vì vậy bị cáo K phải chịu trách nhiệm đồng phạm với các bị cáo khác. Việc Toà án cấp sơ thẩm nhận định bị cáo Nguyễn Thanh K không biết trước được sự việc và khi đi đến con hẻm 286 bị cáo không có đem theo hung khí và chỉ dùng tay đánh Thạch Thành C nhưng không trúng là hành vi tự phát, không có chuẩn bị trước, do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh K chỉ phạm tội “Gây rối trật tự C cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự; nhận định này của Toà án cấp sơ thẩm là chưa đúng với động cơ, mục đích phạm tội, tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm, ý thức tập hợp lực lượng và sử dụng hung khí của bị cáo K, từ đó dẫn đến xử lý bị cáo Nguyễn Thanh K theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là chưa đúng với quy định của pháp luật. Vì vậy, Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS ngày 11/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm theo hướng xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K theo khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận;
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng bởi tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự C cộng xã hội, gây mất an ninh, trật tự ở địa phương. Mặt khác, qua xem xét quá trình hoạt động của bản thân bị cáo, thấy rằng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự C cộng”, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”, từng bị kết án 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, điều đó đã minh chứng bị cáo có nhân thân không tốt; bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 10 tháng tù là chưa nghiêm, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, chưa phù hợp với quy định của pháp luật; vì vậy tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ pháp luật.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh K bị tạm giam từ ngày 27/8/2024 đến 27/6/2025 là 305 ngày, được quy đổi ra bằng 10 tháng 05 ngày (305 ngày : 30 ngày/tháng = 10 tháng 05 ngày). Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2024 đến 27/6/2025 là chưa phù hợp, nên cấp phúc thẩm phải tính lại cho phù hợp.
Kiểm sát viên đề nghị xét xử bị cáo Nguyễn Thanh K theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh K đề nghị không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát, giữ nguyên Bản án sơ thẩm là không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 09/QĐ-VKS-HS ngày 11/7/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2025/HS-ST ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà V, tỉnh Trà V (nay là Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long) về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh K.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự C cộng”; được trừ vào thời gian bị tạm giam trước là 10 (mười) tháng 05 (năm) ngày (từ ngày 27/8/2024 đến 27/6/2025), thời hạn còn lại bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 01 (một) tháng 25 (hai mươi lăm) ngày tù;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Thanh K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Thạch Thành C, Trần Quang T, Nguyễn Phú L, Lý Kim T và Lâm Tuấn K, xử lý vật chứng và án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| - Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); - VKSND tỉnh Vĩnh Long (1b); - Phòng hồ sơ C an tỉnh Vĩnh Long (1b); - TAND khu vực 10 – Vĩnh Long (3b); - VKSND khu vực 10 – Vĩnh Long (1b); - Phòng THADS khu vực 10 – Vĩnh Long (1b); - UBND phường Trà V, Vĩnh Long (1b); - Bị cáo (1b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Vĩnh Long (5b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Văn Thông |