- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thị H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀ THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2024/HS-ST Ngày: 27-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀ THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Thạch;
2. Ông Phạm Văn Tài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thuý Vân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoà Thành tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Thiên – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Thị H, sinh năm: 1980 tại tỉnh Tây Ninh.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Nhà số 471 tổ 15, khu phố Long T phường Long Thành B, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Tùng Ch (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết), chồng: Không có; con: 01 người sinh năm: 2013; Về nhân thân: Ngày 19-4-2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 155; điểm i khoản 1 Điều 39; Điều 59; điểm d, h khoản 1, khoản 2 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985 xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành án phạt tù tại trại giam Cây Cầy từ ngày 22-6-1999 đến ngày 22-12-2000, nộp án phí ngày 29-6-2007, đã được xóa án tích. Ngày 01-8-2001, bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã Hoà Thành) Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án phạt tù tại trại giam Cây Cầy từ ngày 07-6-2001 đến ngày 07-12-2001, đã nộp án phí ngày 13-6-2003, đã được xóa án tích.Tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ từ ngày 18-8-2024, tạm giam từ ngày 24-8-2024 đến nay.
Bị cáo đang tạm giam có mặt tại Tòa.
Bị hại: Ông Lưu Hoàng Gi, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp Trường Th, xã Trường H, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 14-8-2024, bị cáo Ngô Thị H điều khiển xe môtô biển số 70N1-3051 (là xe môtô của bị cáo) đến nhà ông Lưu Hoàng G để sửa xe. Lúc này ông Gi đang ở trong nhà dọn dẹp, bị cáo lợi dụng lúc ông Gi không chú ý lén lút lấy trộm 01 bóp da màu đen, bên trong có 13.000.000 đồng và 02 nhẫn trơn vàng 24K (mỗi chiếc 05 chỉ) để trong túi quần của ông Gi treo trên giá võng rồi nhanh chóng tẩu thoát. Khi phát hiện bị mất trộm tài sản, ông Gi trình báo Công an xã Trường H. Qua truy xét đến ngày 18-8-2024, Công an xã Trường H tiến hành bắt giữ bị cáo, thu giữ vật chứng gồm: 02 nhẫn vàng và 6.865.000 đồng. Bị cáo khai nhận số tiền trộm được của ông Gi, bị cáo đã tiêu xài cá nhân và mua số đề của người phụ nữ tên “Thuý” (không xác định nhân thân, lai lịch) nhà ở phường 3, thành phố Tây Ninh, tổng cộng 6.135.000 đồng, còn lại 6.865.000 đồng, bị cáo giao nộp cho Công an. Riêng bóp da màu đen, sau khi lấy tài sản, bị cáo đã vứt bỏ, không thu hồi được.
Kết luận định giá tài sản số: 37/KLĐG-TTHS ngày 27-8-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Hoà Thành kết luận:
- 01 bóp da, màu đen (không rõ nhãn hiệu) đã qua sử dụng không đủ cơ sở xác định giá.
- 01 (một) nhẫn đeo tay, loại nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ, tình trạng đã qua sử dụng giá: 7.500.000 đồng/chỉ x 05 chỉ = 37.500.000 đồng.
- 01 (một) nhẫn đeo tay, loại nhẫn trơn vàng 24K, trọng lượng 05 chỉ, tình trạng đã qua sử dụng giá: 7.500.000 đồng/chỉ x 05 chỉ = 37.500.000 đồng.
Tổng cộng: 75.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt: 88.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 1721/KL-KTHS ngày 06-9-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: 6.865.000 đồng tiền Việt Nam gửi đến giám định là tiền thật.
Kết luận giám định số 1722/KL-KTHS ngày 17-9-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Xe môtô biển số 70N1- 3051, nhãn hiệu: YAMAHA, màu đen, số khung, số máy không bị đục xoá.
Kết luận giám định số 5604/KL-KTHS ngày 20-9-2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 nhẫn trơn bằng kim loại có khối lượng 37,4984 gam gửi đến giám định có chứa thành phần kim loại chủ yếu là Vàng (Au) - hàm lượng Vàng trung bình là 97,94%.
Quá trình điều tra, bị can đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.
Đối với hành vi mua số đề của bị cáo và người phụ nữ tên “Thúy” bán số đề cho bị cáo, hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.
Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô biển số 70N1- 3051, nhãn hiệu: YAMAHA, màu đen, số khung: RLCS16S109Y027040, số máy: 16S1-027050. Tình trạng không gương chiếu hậu, yên xe bị hư, không bọc sên, đầu phía trước xe bị vỡ, bửng và dè xe phía trước bị vỡ.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Lưu Hoàng Gi đã nhận lại 02 nhẫn vàng (10 chỉ vàng 24k) và 6.865.000 đồng. Ông Gi không yêu cầu bồi thường số tiền 6.135.000 đồng mà bị cáo đã sử dụng.
Kê biên tài sản: Qua xác minh, bị cáo không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.
Tại Cáo trạng số 83/CT-VKSTX.HT ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoà Thành đã truy tố bị cáo Ngô Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoà Thành giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Thị H tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Ngô Thị H từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Ông Lưu Hoàng Gi đã nhận lại 02 nhẫn vàng (10 chỉ vàng 24k) và 6.865.000 đồng, ông Gi không yêu cầu bồi thường số tiền 6.135.000 đồng mà bị cáo sử dụng nên ghi nhận.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị hại ông Gi vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết mình có tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Vào lúc 09 giờ ngày 14-8-2024, tại nhà của ông Lưu Hoàng Gi thuộc ấp Trường Th, xã Trường H, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bị cáo có hành vi lén lút lấy trộm của ông Gi 01 bóp da màu đen bên trong có 13.000.000 đồng và 02 nhẫn vàng loại 24K trọng lượng 10 chỉ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 88.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện Kiểm sát là có căn cứ.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại, làm mất trật tự an ninh xã hội. Mặc dù, bị cáo đã xoá án tích nhưng bị cáo đã bị xử lý hình sự 02 lần về tội “Trộm cắp tài sản”. Về nhân thân bị cáo không được tốt so với bị cáo chưa phạm tội lần nào.
Do đó khi quyết định hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận: Ông Lưu Hoàng Gi đã nhận lại 02 nhẫn vàng (10 chỉ vàng 24K) và 6.865.000 đồng; ông Gi không yêu cầu bồi thường số tiền 6.135.000 đồng mà bị cáo sử dụng.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận sau khi lấy trộm tiền và vàng của ông Gi, bị cáo điều khiển xe môtô của bị cáo để tẩu thoát và lấy 02 chiếc nhẫn vàng trong bóp cất dấu trong xe môtô. Do đó, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe môtô là phương tiện phạm tội của bị cáo là phù hợp pháp luật.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe môtô biển số 70N1- 3051, nhãn hiệu: YAMAHA, màu đen, số khung: RLCS16S109Y027040, số máy: 16S1-027050 (tình trạng không gương chiếu hậu, yên xe bị hư, không bọc sên, đầu phía trước xe bị vỡ, bửng và dè xe phía trước bị vỡ).
Vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Tại Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoà Thành đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù, xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị H 03 (ba) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 18-8-2024.
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
3. Biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Ông Lưu Hoàng Gi đã nhận lại 02 nhẫn vàng (10 chỉ vàng 24K) và 6.865.000 đồng. Ông Gi không yêu cầu bồi thường số tiền 6.135.000 đồng mà bị cáo đã sử dụng.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 70N1- 3051, nhãn hiệu: YAMAHA, màu đen, số khung: RLCS16S109Y027040, số máy: 16S1-027050 (tình trạng không gương chiếu hậu, yên xe bị hư, không bọc sên, đầu phía trước xe bị vỡ, bửng và dè xe phía trước bị vỡ).
Vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND TX.HT; - Chi cục THADS TX.HT; - Công an TX.HT; - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌA PHI N TÒA (Đã Ký) Đào Thị Hiền |