- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "P-T Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị P về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/4/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phi Hổ
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 2810/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 102/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị P, sinh năm 1985
- Bị đơn: Ông Chu Văn T, sinh năm 1981
Cùng Địa chỉ: tổ F, khu phố T, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(Bà P có đơn xin vắng mặt, ông T vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hồ Thị P trình bày: Sau thời gian quen biết và tìm hiểu, giữa bà và ông Chu Văn T phát sinh tình cảm và quyết định tiến tới hôn nhân. Ông bà đã được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận ký kết hôn vào ngày 22/11/2006, hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc. Tuy nhiên từ đầu năm 2020 đến nay, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hoà hợp nhau về quan điểm sống và tính cách dẫn đến thường xuyên bất hòa, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống gia đình căng thẳng, không có hạnh phúc. Ông T nhiều lần có những lời lẽ xúc phạm danh dự của bà. Vì con, bà đã nhiều lần cho ông T cơ hội để hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, đoàn tụ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Chu Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Chu Hồ Bảo T, sinh ngày 28/5/2007; Chu Hồ Anh T, sinh ngày 11/01/2013 và Chu Hồ Anh K, sinh ngày 11/01/2013. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 3 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Chu Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về việc tham gia tố tụng và cung cấp tài liệu chứng cứ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông T không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn bà Hồ Thị P đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Chu Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập tham gia các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Hồ Thị P xin ly hôn ông Chu Văn T, ông T là bị đơn địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bà P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông T tự nguyện chung sống với nhau, được Uỷ ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang cấp chứng nhận đăng ký kết hôn số 119, quyển số I vào ngày 22/11/2006. Đối chiếu các điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, xác định quan hệ hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Nay bà P xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.
2.2. Về yêu cầu xin ly hôn của bà P: Bà P khai, thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc. Tuy nhiên từ đầu năm 2020 đến nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hoà hợp nhau về quan điểm sống và tính cách dẫn đến thường xuyên bất hòa, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống gia đình căng thẳng, không có hạnh phúc. Ông T nhiều lần có những lời lẽ xúc phạm danh dự của bà. Vì con, bà đã nhiều lần cho ông T cơ hội để hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, đoàn tụ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Chu Văn T.
Bị đơn ông Chu Văn T đã được Tòa án xác minh là thực tế hiện đang sinh sống tại địa chỉ: tổ F, khu phố T, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho ông T tại địa chỉ trên nhưng ông T không đến Tòa án để làm việc, cũng không có văn bản trình bày ý kiến. Mặc dù Biên bản xác minh ngày 10/01/2024 tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thể hiện chính quyền địa phương không biết giữa bà P và ông T có xảy ra mâu thuẫn hay không vì các đương sự không báo với chính quyền địa phương và không có đơn đề nghị địa phương hoà giải nhưng việc ông T không đến Toà án làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến thể hiện ông T đã có ý bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng bà P và ông Chu Văn T là có thật và hiện đã rất trầm trọng. Vợ chồng thường xuyên bất hòa, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống gia đình căng thẳng, không có hạnh phúc. Bà P và ông T không còn quan tâm, tôn trọng nhau, mục đích hôn nhân không đạt, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, nếu tiếp tục kéo dài tình trạng hôn nhân cũng không đem đến hạnh phúc cho nhau. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà P, cho bà P được ly hôn với ông T để cả hai sớm ổn định cuộc sống.
2.3. Về con chung: Bà P và ông T có 03 con chung tên Chu Hồ Bảo T, sinh ngày 28/5/2007; cháu Chu Hồ Anh T, sinh ngày 11/01/2013; cháu Chu Hồ Anh K, sinh ngày 11/01/2013. Ly hôn, bà P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 03 con chung đến khi con trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con vì bản thân bà đủ điều kiện nuôi con. Tại Toà án, cả ba người con chung đều có nguyện vọng được ở với mẹ là bà P. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T không đến Toà án làm việc và không có ý kiến phản đối, do đó chấp nhận yêu cầu của bà P, giao cả 03 con chung cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Do bà P không yêu cầu nên tạm thời ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, bà P, ông T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông T (không trực tiếp nuôi con) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
2.4. Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
2.5. Về nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
2.6. Về án phí: Bà Hồ Thị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị P về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị P, sinh năm 1985 được ly hôn ông Chu Văn T, sinh năm 1981.
2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Chu Hồ Bảo T, sinh ngày 28/5/2007; cháu Chu Hồ Anh T, sinh ngày 11/01/2013; cháu Chu Hồ Anh K, sinh ngày 11/01/2013 cho bà Hồ Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động. Tạm thời ông Chu Văn T không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, bà Hồ Thị P và ông Chu Văn T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Ông T (không trực tiếp nuôi con) có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 84, 110, 118 Luật hôn nhân gia đình.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bà Hồ Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà P đã nộp theo biên lai thu số 0009845 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà P đã nộp xong.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TP. Biên Hòa; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THADS TP. Biên Hòa ; - Nơi đăng ký kết hôn ; - Lưu : HS, VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |