vanban.org

Bản án 91/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/03/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Võ Thị Bé T.

Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Trương Thị Kim N. Sửa bản án sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Võ Thị Bé Tư - Trương Thị Kim Nguyên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Võ Thị Bé T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/DS-PT
Ngày: 07-3-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay,
hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tặng.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

Ông Lê Khắc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 21/12/2023; ngày 21/02/2024 và ngày 07/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay, hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 441/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Bé T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo hợp pháp của bà Bé T1: Anh Nguyễn Phước T2, sinh năm 1990. Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 03/10/2023.

Địa chỉ: Số C, khóm T, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Chị Trương Thị Kim N, sinh năm 1992;

Người đại diện hợp pháp của chị N: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1968 (chồng chị N). Là người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 04/12/2023.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1968 (chồng chị N);

Cùng địa chỉ: E, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

4. Người kháng cáo: Chị Võ Thị Bé T và chị Trương Thị Kim N là nguyên đơn và bị đơn.

Anh K có mặt tại phiên tòa. Anh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Chị Võ Thị Bé T ủy quyền cho anh Nguyễn Phước T2 trình bày:

Nguyên trước đây chị B T và chị N có quen biết với nhau thông qua người bạn tên G, biết chị B T có làm chủ hụi nên chị N có tham gia hụi do chị Bé T làm chủ hụi. Trong quá trình tham gia hụi chị N đã hốt hụi nhưng sau đó không đóng hụi chết cho chị Bé T, nên ngày 07/4/2022 chị N viết giấy xác nhận nợ chị Bé T số tiền là 155.000.000 đồng. Ngoài ra hai bên còn viết giấy nhận nợ ngày 14/11/2021 thể hiện chị N có mượn của chị B T số tiền 200.000.000 đồng, mặc dù số nợ chưa đến 200.000.000 đồng nhưng hai bên thống nhất ghi tròn 200.000.000 đồng. Sau đó chị N góp trả dần số tiền nợ 155.000.000 đồng cho chị T, đến ngày 02/6/2022 còn nợ là 110.000.000 đồng. Tiếp đến ngày 7/6/2022 chị N hốt một phần hụi loại 100.000 đồng/1 ngày, dây hụi này có 40 phần (40 ngày), chị N đã đóng được 6 lần thì hốt. Từ khi hốt hụi xong thì chị N không đóng hụi chết cho chị T, tính đến ngày kết thúc dây hụi chị N còn nợ số tiền là 3.400.000 đồng. Ngày 09/06/2022 chị N hốt một phần hụi loại hụi 200.000 đồng/1 ngày, hụi có 40 phần (40 ngày), chị N đã đóng được 4 lần thì hốt. Từ khi hốt hụi xong thì chị N không đóng hụi chết cho chị T, tính đến ngày kết thúc dây hụi chị N còn nợ số tiền là 7.200.000 đồng. Ngày 30/06/2022 chị N tiếp tục hốt một phần hụi loại hụi 200.000 đồng/1 ngày, hụi có 40 phần (40 ngày), chị N đóng được 10 lần thì hốt. Từ khi hốt hụi xong thì chị N không đóng hụi chết cho chị T, tính đến ngày kết thúc dây hụi chị N còn nợ số tiền là 6.000.000 đồng. Tổng công tiền hụi cũ và mới chị N còn nợ là: 110.000.000 đồng + 3.400.000 đồng + 7.200.000 đồng + 6.000.000 đồng =126.600.000 đồng.

Ngoài ra, chị N còn vay tiền chị B T số tiền 60.000.000 đồng chưa trả, cụ thể: ngày 09/05/2022 chị N vay số tiền là 10.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng, để làm ăn, hẹn trong vòng 4 tháng sẽ trả lại nhưng đến nay chưa trả. Ngày 20/05/2022 chị N tiếp tục đến nhà chị B T để mượn số tiền là 50.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng, để làm ăn, hẹn trong vòng 4 tháng sẽ trả lại nhưng đến nay cũng chưa trả. Nay chị Bé T yêu cầu chị N và chồng là anh K liên đới trả số tiền còn nợ chị B T tổng cộng là 186.600.000 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu sáu trăm ngàn đồng), không yêu cầu tính lãi.

- Chị Trương Thị Kim N ủy quyền cho anh Nguyễn Văn K trình bày:

Tại phiên tòa anh K đại diện theo ủy quyền của chị Trương Thị Kim N xác định chị N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Bé T về việc yêu cầu chị N trả tổng số tiền 186.600.000 đồng. Anh K đề nghị nguyên đơn căn cứ theo Nghị định số 19/2019/NĐ-CP của Chính phủ cung cấp văn bản điều lệ tham gia hụi có đầy đủ chữ ký của các thành viên và căn cứ Điều 15, Điều 17 Nghị định 19 yêu cầu nguyên đơn cung cấp bản photo sổ ghi hụi liên quan đến chị N từ thời điểm bắt đầu đến kết thúc trong quá trình giao dịch hụi. Đối với số tiền vay 60.000.000 đồng, tại phiên tòa anh K trình bày chị N có nói với anh K rằng có vay tiền của chị B T nhưng vay để đóng hụi cho chị B T và phải chịu lãi suất 10.000 đồng/1 triệu đồng/ngày. Anh K cho rằng chị N có tiền sử bệnh trầm cảm nên bị chị T dùng áp lực nên phải nghe theo, ngoài ra chị N còn nói cho anh K biết là chị T có đưa cho chị ký tên vào một số tờ giấy trắng không ghi nội dung. Trước đây anh K từng nộp đơn yêu cầu tuyên bố chị N hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng sau đó anh đã rút đơn yêu cầu. Tại phiên tòa anh K xác định không có yêu cầu về việc tuyên bố chị N hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, tại phiên tòa anh K nộp bảng kê chi tiết số tiền hụi đã nhận, đã nộp năm 2022, theo giải thích của anh K tại phiên tòa thì tại cột 4 tiêu đề “còn nợ” thể hiện tổng số nợ là 172.600.000 đồng, tuy nhiên đã bao gồm số tiền cấn trừ (cột 5) là 74.000.000 đồng, do đó tổng thực nợ là 172.600.000 đồng – 74.000.000 đồng = 98.600.000 đồng. Anh K xác nhận anh lập bảng kê này dựa trên số liệu chị N cung cấp và theo bảng kê thì chị N còn nợ chị Bé T 98.600.000 đồng, số tiền nợ này chị N có trả cho chị T chưa thì anh không xác định được, chị N có nói đã trả dần tiếp tục nhưng không nhớ bao nhiêu và không có số liệu nên anh K không thể liệt kê vào bảng kê. Tại phiên tòa anh K khẳng định chịu trách nhiệm trước pháp luật về bảng kê của mình đã cung cấp cho Hội đồng xét xử. Anh K cho rằng giao dịch mà chị N và chị T thực hiện là việc cho vay lãi cao chứ không phải giao dịch hụi, từ đó với tư cách đại diện theo ủy quyền cũa chị N anh K không đồng ý trả bất kỳ số tiền nào cho chị T.

- Anh Nguyễn Văn K trình bày:

Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc anh K liên đới với chị N trả nợ thì anh K không đồng ý, vì anh K không biết gì về việc chị N vay tiền và tham gia hụi do chị Bé T làm chủ. Anh K không lệ thuộc kinh tế từ chị N mà ngược lại mỗi năm anh K đều cung cấp cho chị N từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng để chị N kinh doanh.

Tại Bản án sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã quyết định:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Bé T đối với chị Trương Thị Kim N và anh Nguyễn Văn K về việc yêu cầu trả số tiền nợ hụi và nợ vay. Buộc chị Trương Thị Kim N phải trả cho chị Võ Thị Bé T số tiền nợ từ việc giao dịch hụi là 98.600.000 đồng và nợ vay 60.000.000 đồng, tổng cộng là 158.600.000 đồng (Một trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Không chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Bé T về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn K liên đới trả nợ cho chị Võ Thị Bé T.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 27/8/2023, chị Võ Thị Bé T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, buộc chị Trương Thị Kim N phải trả cho chị B T số tiền nợ hụi và tiền vay tổng cộng là 186.600.000 đồng.

Ngày 25/8/2023, chị Trương Thị Kim N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, chị N không đồng ý trả số tiền vay 60.000.000 đồng và tiền hụi 98.600.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Triều đại d cho chị Bé T thống nhất số tiền lãi chị Bé T đã nhận 60.000.000 đồng trừ vào số tiền chị N vay 60.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tạ i phiên tòa phúc thẩ m, đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân Tỉ nh, phát biể u việ c tuân thủ pháp luậ t củ a Thẩ m phán và Hộ i đồ ng xét xử đả m bả o đúng quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng dân sự , các đư ơ ng sự tham gia tố tụ ng chấ p hành tố t quy đị nh củ a pháp luậ t và đề xuấ t hư ớ ng giả i quyế t la chấ p nhậ n mộ t phầ n kháng cáo củ a chị Võ Thị Bé T và chị Trư ơ ng Thị Kim N, sử a bả n án sơ thẩ m.

NHẬN ĐỊ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ u tài liệ u, chứ ng cứ có trong hồ sơ , đư ợ c kiể m tra tạ i phiên tòa, că n cứ vào kế t quả tranh luậ n tạ i phiên tòa, lờ i phát biể u củ a Kiể m sát viên, Hộ i đồ ng xét xử nhậ n đị nh:

[1] Theo chị Võ Thị B1 T khai, chị Bé T có làm chủ hụ i chị N có tham gia chơ i nhiề u dây hụ i. Ngày 14/11/2021 tính toán sổ sách thì chị N còn nợ số tiề n chư a đế n 200.000.000 đồ ng, chị N có ký tên vào giấ y nợ chị Bé T 200.000.000 đồ ng. Sau đó, chị N có trả dầ n đế n ngày 02/6/2022 âl, chị N còn nợ chị B1 T số tiề n hụ i 110.000.000 đồ ng, chị N có viế t vào giấ y theo dõi tiề n nợ do chị Bé T lậ p ngày 07/4/2022. Ngoài ra, chị N còn tham gia cho 03 dây hụ i 20.000 đ/ngày, do chị B1 T làm chủ , chị N đã hố t hụ i xong, như ng không đóng hụ i đầ y đủ còn nợ cụ thể như sau: Dây hụ i ngày 07/6/2022 âl, còn nợ 3.400.000 đồ ng, dây hụ i ngày 09/6/2022 âl, còn nợ 7.200.000 đồ ng và dây hụ i ngày 30/6/2022 âl còn nợ 6.000.000 đồ ng, tổ ng cộ ng 03 dây hụ i chị N còn nợ 16.600.000 đồ ng. Tổ ng cộ ng chị N nợ tiề n hụ i 126.600.000 đồ ng, chị B1 T yêu cầ u chị N trả số tiề n 126.600.000 đồ ng.

[2] Anh Nguyễ n Vă n K thừ a nhậ n chị N vợ củ a anh K có tham gia chơ i hụ i do chị Bé T làm chủ cụ thể :

1. Dây hụ i ngày 13/01/2022 âl, hụ i 20.000 đ/01 phầ n/ ngày, hụ i có bao nhiêu phầ n không rõ, chị N chơ i 25 phầ n, chu kỳ mãn hụ i là 40 ngày. Chị Bé T có giao cho chị N 17.100.000 đồ ng. Chị N phả i trả cho chị B1 T 20.000.000 đồ ng, (thự c chấ t đây là tiề n vay), chị N đã góp đư ợ c 12.000.000 đồ ng, còn nợ 8.000.000 đồ ng.

2. Dây hụ i ngày 07/02/2022 âl, hụ i 20.000 đ/01 phầ n/ ngày, hụ i có bao nhiêu phầ n không rõ, chị N chơ i 50 phầ n, chu kỳ mãn hụ i là 40 ngày. Chị Bé T có giao cho chị N 34.200.000 đồ ng (thự c tế nhậ n 26.200.000 đồ ng), mỗ i ngày góp 1.000.000 đồ ng, chị N góp đư ợ c 23 ngày số tiề n 23.000.000 đồ ng, còn nợ 17.000.000 đồ ng.

3. Dây hụ i ngày 01/3/2022 âl, hụ i 20.000 đ/01 phầ n/ ngày, hụ i có bao nhiêu phầ n không rõ, chị N chơ i 50 phầ n, chu kỳ mãn hụ i là 40 ngày. Chị Bé T có giao cho chị N 34.200.000 đồ ng (thự c tế nhậ n 17.200.000 đồ ng), mỗ i ngày góp 1.000.000 đồ ng, chị N góp đư ợ c 15 ngày số tiề n 15.000.000 đồ ng, còn nợ 25.000.000 đồ ng.

4. Dây hụ i ngày 01/02/2022 âl, hụ i 20.000 đ/01 phầ n/ ngày, hụ i có bao nhiêu phầ n không rõ, chị N tham gia cho 70 phầ n, chu kỳ mãn hụ i là 40 ngày dứ t điể m, mỗ i ngày góp 1.400.000 đồ ng. Chị Bé T có giao cho chị N 47.880.000 đồ ng, chị N góp đư ợ c 20 ngày số tiề n 28.000.000 đồ ng, còn nợ 28.000.000 đồ ng.

5. Dây hụ i ngày 22/02/2022 âl, hụ i 20.000 đ/01 phầ n/ ngày, hụ i có bao nhiêu phầ n không rõ, chị N tham gia chơ i 70 phầ n, chu kỳ mãn hụ i là 40 ngày dứ t điể m, mỗ i ngày góp 1.400.000 đồ ng. Chị Bé T có giao cho chị N 47.880.000 đồ ng (thự c chấ t nhậ n 19.880.000 đồ ng), chị N góp đư ợ c 16 ngày, số tiề n 22.400.000 đồ ng, còn nợ 33.600.000 đồ ng.

6. Dây hụ i ngày 11/02/2022 âl, hụ i 20.000 đ/01 phầ n/ ngày, hụ i có bao nhiêu phầ n không rõ, chị N tham gia chơ i 50 phầ n, chu kỳ mãn hụ i là 40 ngày dứ t điể m, mỗ i ngày góp 1.000.000 đồ ng. Chị Bé T có giao cho chị N 34.200.000 đồ ng, chị N góp đư ợ c 19 ngày số tiề n 19.000.000 đồ ng, còn nợ 21.000.000 đồ ng.

7. Dây hụ i ngày 01/3/2022 âl, hụ i 20.000 đ/01 phầ n/ ngày, hụ i có bao nhiêu phầ n không rõ, chị N tham gia chơ i 50 phầ n, không rõ thờ i gian mãn hụ i. Chị Bé T có giao cho chị N 34.200.000 đồ ng (thự c tế nhậ n 13.200.000 đồ ng), chị N góp như ng không nhớ đư ợ c bao nhiêu ngày.

[3] Tuy nhiên, theo anh K thự c tế đây là tiề n vay trả góp và chị N không còn nợ tiề n chị Bé T.

[4] Xét thấ y, về phía chị Bé T mặ c dù không có sổ sách theo dõi việ c chơ i hụ i. Tuy nhiên, theo giấ y nợ ngày 14/11/2021 thì chị N có mư ợ n củ a chị Bé T 200.000.000 đồ ng chị N có ký tên cuố i giấ y nợ và theo giấ y theo dõi nợ do chị Bé T lậ p ngày 07/4/2022, thì chị N có ghi 02 dòng chữ “còn nợ 110.000.000 đồ ng, ngày mùng 2 tháng 6 âl”. Đ iề u đó, chứ ng tỏ đế n ngày 02/6 âl, chị N còn nợ chị Bé T 110.000.000 đồ ng.

[5] Đ ố i vớ i các dây hụ i ngày 07/6/2022 âl, dây hụ i ngày 09/6/2022 âl và dây hụ i ngày 30/6/2022 âl, đư ợ c mở hụ i sau ngày 02/6 âl, như ng về phía chị N không thừ a nhậ n có tham gia chơ i hụ i, chị Bé T không có chứ ng cứ chứ ng minh, nên không đủ cơ sở buộ c chị N trả cho chị B1 T số tiề n 16.600.000 đồ ng.

[6] Về phía anh K có cung cấ p bả ng kê chi tiế t số tiề n hụ i đã nhậ n ngày 22/11/2022, như ng bả ng kê là do anh K tự lậ p không có xác nhậ n củ a chị B1 T và chị B1 T không thừ a nhậ n, anh K không có chứ ng cứ chứ ng minh số tiề n chị N đã nhậ n cũ ng như đã trả cho chị B1 T, nên trình bày củ a anh K là không có cơ sở .

[7] Về số tiề n vay, anh K thừ a nhậ n chị N có vay củ a chị B1 T số tiề n 30.000.000 đồ ng và có đóng lãi đư ợ c số tiề n 18.000.000 đồ ng. Về phía chị Bé T cho rằ ng, chị Bé T cho chị N vay 03 lầ n số tiề n 60.000.000 đồ ng và chị N có đóng lãi đư ợ c số tiề n 12.000.000 đồ ng. Xét thấ y, mặ c dù chị Bé T cũ ng không có giấ y tờ chứ ng minh là cho chị N vay số tiề n 60.000.000 đồ ng. Tuy nhiên, tạ i biên bả n hòa giả i ngày 10/7/2023, anh K thừ a nhậ n chị N có vay củ a chị B1 T số tiề n 60.000.000 đồ ng là để đóng hụ i cho chị B1 T, như ng anh K (chị N) không có chứ ng cứ chứ ng minh số tiề n 60.000.000 đồ ng là đã đóng hụ i cho chị B1 T, nên việ c chị B1 T yêu cầ u chị N trả 60.000.000 đồ ng tiề n vay là có cơ sở . Đ ố i vớ i số tiề n lãi chị N trình bày đóng lãi đư ợ c số tiề n 36.000.000 đồ ng cho cháu củ a chị B1 T nhậ n, về phía chị Bé T thừ a nhậ n có nhậ n lãi số tiề n 12.000.000 đồ ng, chị N cũ ng không có chứ ng cứ chứ ng minh đã đóng lãi đư ợ c số tiề n 36.000.000 đồ ng. Tạ i phiên tòa phúc thẩ m, ngư ờ i đạ i diệ n củ a chị B1 T thố ng nhấ t trừ số tiề n 12.000.000 đồ ng vào vố n vay và yêu cầ u chị N trả số tiề n 48.000.000 đồ ng là phù hợ p vớ i quy đị nh củ a pháp luậ t, nên Hộ i đồ ng xét xử chấ p nhậ n mộ t phầ n kháng cáo củ a chị N và chấ p nhậ n mộ t phầ n kháng cáo củ a chị Bé T.

[8] Đ ố i vớ i yêu cầ u giám đị nh củ a anh K, tạ i phiên tòa phúc thẩ m, ngày 21/12/2023 anh K là ngư ờ i đạ i diệ n hợ p pháp củ a chị N đề nghị Hộ i đồ ng xét xử trư ng cầ u giám đị nh chữ viế t và chữ ký củ a chị N tạ i giấ y mư ợ n nợ ngày 14/11/2021 và giấ y theo dõi nợ ngày 07/4/2022, Hộ i đồ ng xét xử tạ m ngư ng phiên tòa để thự c hiệ n việ c giám đị nh. Tạ i đơ n yêu cầ u giám đị nh ngày 21/12/2023, anh K cam kế t đế n ngày 28/12/2023, anh K cung cấ p các chữ ký, chữ viế t củ a chị N để làm mẫ u so sánh và nộ p chi phí giám đị nh, đế n ngày 28/12/2023 không nộ p các tài liệ u và chi phí giám đị nh thì anh K thố ng nhấ t từ bỏ việ c giám đị nh và tạ i phiên tòa hôm nay xác đị nh là không có yêu cầ u giám đị nh, nên Hộ i đồ ng xét xử xem xét giả i quyế t vụ án theo quy đị nh củ a pháp luậ t.

[9] Xét, đề nghị củ a đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân tỉ nh Đ ồ ng Tháp là có că n cứ , nên Hộ i đồ ng xét xử chấ p nhậ n.

[10] Từ nhữ ng cơ sở trên, Hộ i đồ ng xét xử chấ p nhậ n mộ t phầ n kháng cáo củ a chị Võ Thị Bé T. Chấ p nhậ n mộ t phầ n kháng cáo củ a chị Trư ơ ng Thị Kim N, sử a bả n án sơ thẩ m.

[11] Do sửa bản án sơ thẩm, nên chị Bé T và chị N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 2, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.

[12] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều Điều 463, 466, 468 và Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2, Điều 148; Khoản 2, Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7, Điều 8, Điều 25 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Võ Thị Bé T.

- Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Trương Thị Kim N.

Sửa bản án sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 14/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Bé T.

Buộc chị Trương Thị Kim N phải trả cho chị Võ Thị Bé T số tiền 158.000.000 đồng (trong đó tiền hụi 110.000.000 đồng và nợ vay 48.000.000 đồng).

2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Bé T về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn K liên đới cùng chị Trương Thị Kim N trả nợ cho chị Võ Thị Bé T.

Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí:

3.1 Chị Võ Thị Bé T phải chịu 1.430.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Chị B1 T không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và phúc thẩm đã nộp tổng cộng 5.766.000 đồng, theo biên lai số 0013409 ngày 06/10/2022, theo biên lai số 0017485 ngày 20/6/2023 và biên lai số 0005662 ngày 28/8/2023, được trừ vào tiền án phí. Chị Bé T còn được nhận lại số tiền 5.466.000 đồng, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

3.2 Chị Trương Thị Kim N phải nộp 7.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm của chị N là 300.000 đồng, theo biên lai số 0005661, ngày 25/8/2023, được trừ vào tiền án phí. Chị N còn phải nộp 7.600.000 đồng tiền án phí, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ