- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình L - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Quỳnh Lưu nhận được Quyết định thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày: 23-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Hằng.
2. Bà Hồ Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình L (tên gọi khác: không); sinh năm: 2003 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 5, xã Qu H, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hoàng A và bà: Chu Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ: từ ngày 23/3/2023 đến ngày 01/4/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: anh Võ Hữu Nam Gi, sinh năm 1992. Nơi cư trú: xóm 6, xã Qu Gi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua hình thức rao bán số lô, số đề trên mạng Internet. Khoảng tháng 01/2023, Nguyễn Đình L tạo tài khoản trên kênh YouTube mang tên “soi cầu miền nam 868” đăng video nhận xét kết quả xổ số miền Bắc ngày hôm trước, dự đoán các số trúng giải của ngày hôm sau với cam kết “chốt số đẳng cấp an toàn – chính xác – đảm bảo – cam kết vào bờ 100%” kèm tài khoản Zalo “Phong Ka” được đăng ký bằng số điện thoại 0398918805 và Zalo “Hồ Thị Kim Anh” đăng ký bằng số điện thoại 0383923876 để liên lạc. Khi có người liên hệ, L giới thiệu và yêu cầu chuyển phí từ 1.000.000đ (một triệu đồng) đến 2.000.000đ (hai triệu đồng) vào tài khoản số 5456789868686 của L được mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội MB. Sau khi nhận được tiền, L tự nghĩ ra các cặp số lô, số đề bất kỳ rồi cung cấp cho người mua qua tin nhắn zalo.
Ngày 21/3/2023, anh Võ Hữu Nam Gi sử dụng tài khoản zalo “Hoài An” kết bạn với zalo “Phong Ka” của L. Qua trao đổi, L yêu cầu anh Gi chuyển khoản 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), nhận được tiền, L cho anh Gi cặp số lô 36. Sáng ngày 22/3/2023, L hỏi anh Gi có mua số miền Bắc không, anh Gi đồng ý, L yêu cầu chuyển vào tài khoản của L số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), nhận được tiền, L cho anh Gi các số 49-94-79-97-19-91. Đến trưa cùng ngày, L sử dụng tài khoản zalo “Hồ Thị Kim Anh” nhắn tin đến zalo “Hoài An” của anh Gi hỏi có mua xổ số miền nam không, anh Gi đồng ý, L yêu cầu chuyển số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản MB 0383923876 mang tên HO THI MINH ANH. Nhận được tiền, L cung cấp các số 13-31 cho anh Gi.
Sau khi tìm hiểu biết mình bị lừa, anh Gi làm đơn trình báo đến Công an xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Đình L bị bắt giữ.
Bản cáo trạng số 97/CT-VKS-QL ngày 31/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Nguyễn Đình L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 12-15 tháng Cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu “hp” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: không xem xét.
Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình L khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội được sửa chữa, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình L khai nhận: ngày 22/3/2023, Lộc đã đưa ra các thông tin gian dối về kết quả xổ số để anh Võ Hữu Nam Gi chuyển khoản cho L số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của bị hại, nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý, vì mục đích tư lợi. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Có tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài lần phạm tội này, thì từ trước tới nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương, cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Xử phạt cải tạo không giam giữ và không khấu trừ thu nhập vì bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định.
Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000đồng...”. Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Biện pháp tư pháp: 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu “hp” và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Võ Hữu Nam Gi số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Bị hại không yêu cầu gì thêm về dân sự, nên không xem xét.
Những vấn đề khác: anh Võ Hữu Nam Gi mua số lô, số đề nhưng không dùng để đánh bạc nên không bị xử lý.
Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ bằng 27 (hai bảy) ngày Cải tạo không giam giữ, còn phải thi hành 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày Cải tạo không giam giữ. Về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Quỳnh Lưu nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Đình L cho Ủy ban nhân dân xã Quỳnh Hưng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án Cải tạo không giam giữ.
2. Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Đình L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo và 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu “hp” đã qua sử dụng. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/6/2023 giữa Công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Nguyễn Đình L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CA huyện Quỳnh Lưu; - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu; - THA hình sự; - Sở Tư pháp; - UBND xã Qu H (để biết); - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ + Lưu trữ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |