- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HTN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày 19-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HTN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Tân;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thông Minh Tấn;
Ông Hoàng Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Duy Khánh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện HTN, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện HTN, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Phan Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện HTN, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 74/2023/QĐXXST-HS ngày 04/7/2023 đối với bị cáo:
Đỗ Quốc Thành Ngh, sinh năm 1998; nơi sinh: Bình Thuận;
- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn PC, xã HC, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận.
- Nghề Ngh: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn N - sinh năm 1965 và bà Đinh Thị Ph - sinh năm 1967; vợ, con: chưa có; gia đình có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1986, là bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình.
- Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/4/2023 cho đến nay.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Bị hại: ông Lê Thanh S - sinh 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn PC, xã HC, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn H - sinh năm 1987; địa chỉ: KP 1, phường PT, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Quốc Thành Ngh biết Lê Thanh S (sinh năm 1999, trú thôn PC, xã HC, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận) có xe mô tô hiệu Suzuki Raider BKS 86B4-50940 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 01/3/2023, Ngh đến nhà của S và nói dối với S là mượn xe mô tô hiệu Suzuki Raider BKS 86B4-50940 của S để đi đón bạn gái ở Km30, khoảng 01 giờ sau sẽ đem xe về trả cho S nên S đồng ý và giao xe cho Ngh; đồng thời Ngh lấy lý do nếu không có giấy đăng ký xe sẽ bị Công an bắt và giam xe nên nói S đưa giấy đăng ký xe mô tô trên cho Ngh thì S đồng ý. Sau khi có được xe mô tô cùng giấy đăng ký xe, Ngh không đi đến Km30 mà điều khiển xe đến Km24 nhận hàng rồi tiếp tục đến tiệm sửa xe Tuấn Hải do ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1987, trú khu phố 1, phường PT, thành phố PT) để bán. Ngh đưa giấy đăng ký xe cho ông H, nói dối là xe của Ngh mua của bạn chưa kịp S tên nên ông H đồng ý mua xe mô tô trên với giá 18.000.000 đồng, nhưng ông H giữ lại 1.000.000 đồng để khi nào Ngh cung cấp được ảnh chụp căn cước công dân của người đứng tên trên giấy đăng ký thì sẽ đưa nốt cho Ngh. Sau đó, Ngh nhắn tin nói với S là xe của S bị mất trộm, yêu cầu S chụp ảnh căn cước công dân của S gửi cho Ngh để đi tìm xe. Nghi ngờ xe mô tô của mình bị Ngh chiếm đoạt nên S đã làm đơn tố cáo đến Công an xã HC. Sau khi biết xe mô tô là tài sản do phạm tội mà có thì ông Nguyễn Văn H đã giao nộp xe mô tô cùng giấy đăng ký xe cho cơ quan Công an.
Tại Kết luận định giá tài sản số 16/2023-HĐĐG ngày 20/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện HTN, kết luận: xe mô tô hiệu Suzuki Raider BKS 86B4-50940 trị giá 19.550.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Vật chứng của vụ án: gồm xe mô tô hiệu Suzuki Raider BKS 86B4-50940 cùng giấy đăng ký xe. Quá trình điều tra, xét thấy đã làm rõ và không cần thiết tiếp tục tạm giữ nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cùng giấy đăng ký xe cho chủ sở hữu Lê Thanh S.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã chủ động trả lại số tiền cho Nguyễn Văn H. Bị hại Lê Thanh S cũng đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 84/CT-VKSHTN-HS ngày 16/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện HTN truy tố bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1, Điều 174; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015;
Xử phạt: Đỗ Quốc Thành Ngh từ 01 năm đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án.
Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Bị hại, ông Lê Thanh S không có yêu cầu nên không đề cập.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lối lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại đến vụ án không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 01/03/2023, tại thôn PC, xã HC, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận, Đỗ Quốc Thành Ngh đã dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Suzuki Raider mang BKS 86B4-50940 trị giá 19.550.000 đồng của anh Lê Thanh S.
3 Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, nên cần phải có hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung. Do vậy hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
4 Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cụ thể: Tại phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả và bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo. Ngoài ra tại phiên tòa, bị cáo cung cấp thêm cho Hội đồng xét xử giấy chứng nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của địa phương), cha bị cáo là trưởng thôn trong quá trình công tác có nhiều thành tích và được nhiều cấp, nhiều ngành khen thưởng. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ngh có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự. Do vậy cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo để trở thành công dân tốt.
6 Về hình phạt b sung: Xét bị cáo không có nghề Ngh và thu nhập n định nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
7 Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn H đã nhận lại tiền, bị hại Lê Thanh S cũng đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Văn H khi mua xe mô tô từ Đỗ Quốc Thành Ngh thì không biết tài sản này là do phạm tội mà có nên việc Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
8 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đỗ Quốc Thành Ngh 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh cho Ủy ban nhân dân xã HC, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận nơi bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh đang cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Đỗ Quốc Thành Ngh.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm ngh a vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
3. Án phí: Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Quốc Thành Ngh phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/7/2023). Bị hại; người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng m t có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án ho c ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Như Điều 262 Bộ luật tố tụng Hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Tân |