- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 91/2023/HS-ST Ngày: 27 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Rạt;
Ông Nguyễn Chí Lin;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đẹt– Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên;
Ngày 27 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 98/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Bị cáo: Trần Quốc Th (tên gọi khác: không có), sinh ngày 20 tháng 10 năm 1995, giới tính Nam. Nơi sinh: tỉnh Long An; Nơi cư trú: Ấp 5, xã M, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1969 (sống) và bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1969 (sống); Bản thân chưa có vợ con; Tiền sự: không. Tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2017/HSST ngày 07/02/2017 của Tòa án quân sự khu vực 1 - Quân khu 7 xử phạt Trần Quốc Th 10 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng và Bản án số 65/2016/HSST ngày 11/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt Th 01 năm tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp hình phạt Th phải chấp hành chung của 02 bản án là 01 năm 10 tháng tù, khấu trừ thời hạn chấp hành hình phạt của Bản án số 65/2016/HSST ngày 11/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tính từ ngày 04/5/2016 đến ngày 07/02/2017 là 09 tháng 03 ngày tù. Thời hạn chấp hành phạt tù còn lại của bị cáo Th là 01 năm 27 ngày. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018. Chưa chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm Bản án số 65/2016/HSST ngày 11/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa và 1.050.000 đồng tiền thu lợi bất chính sung công quỹ nhà nước theo giấy xác nhận kết quả thi hành án số 402 ngày 06/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Nhân thân:
Ngày 10/9/2012 Trần Quốc Th bị Ủy ban nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn chấp hành 12 tháng về hành vi gây tối trật tự công cộng. Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2023 đến nay bị cáo có mặt.
Bị hại: Ông Phạm Văn Gi, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp B, xã Th, huyện Châu Thành, tỉnh Long An (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm H, xã Ng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (vắng mặt);
Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1985. Địa chỉ: 247 Ấp M, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);
Ông Trnh Văn H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp Tr, xã M2, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt);
Ông Nguyễn Trung Tr, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp S, thị trấn H, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (vắng mặt;
Ông Đặng Minh Tr1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Phường 3, Thành phố T, tỉnh Long An (vắng mặt);
Ông Trần Trương Thanh N, sinh năm 1998. Địa chỉ: Số 7 A 248/1 Ấp 7, xã Ph, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 ngày 08/3/2023, Trần Quốc Th chơi game bắn cá tại tiệm game không biển hiệu thuộc ấp Mới 2, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thua hết tiền. Đến khoảng 03 giờ ngày 09/3/2023 người thanh niên tên Nh (chưa xác định nhân thân lai lịch) rủ Th đi chiếm đoạt tài sản của người khác đem bán lấy tiền tiêu xài, Th đồng ý. Sau đó, Nh điều khiển xe mô tô loại Wave màu đen (không xác định được biển số) của Nh chở Th đi tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Đến khoảng 03 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến trước nhà trọ biển hiệu Hòa Thuận thuộc ấp Mới 2, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, cả hai nhìn thấy một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision màu trắng của anh Phạm Văn Gi dựng trước cửa phòng số 4 trong dãy nhà trọ. Lúc này, Nh ở ngoài đường cảnh Gi, Th đi vào trong nhà trọ thấy xe mô tô không có chìa kH nên Th đẩy xe mô tô ra ngoài, Th ngồi lên xe vừa trộm được Nh điều khiển xe Wave dùng chân đẩy xe Vision đi được khoảng 500 mét thì dừng lại. Nh lấy tua vít trong xe của Nh tháo mặt nạ của xe Vision ra nối dây điện khởi động xe. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô này cùng Nh đến tiệm cầm đồ biển hiệu Đức Tuấn (24h) thuộc ấp M, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Đến nơi, Th chạy xe mô tô Vision vào tiệm cầm đồ còn Nh ở bên ngoài chờ, tại đây Th gặp Nguyễn Văn L (là quản lý tiệm cầm đồ Đ) và nói xe mô tô Vision là của Th mới mua chưa có giấy đăng ký đang cần tiền gấp nên kêu L cầm cố, sáng Th sẽ trở lại đưa hồ sơ xe mô tô cho L sau, L đồng ý cầm xe mô tô này với giá 11.000.000 đồng nhưng đưa trước cho Th 10.000.000 đồng, còn giữ lại 1.000.000 đồng khi nào Th đưa hồ sơ xe thì L đưa 1.000.000 đồng còn lại. Số tiền có được Th và Nh thỏa thuận chia nhau mỗi người 5.000.000 đồng nhưng trước đó Th thiếu Nh 6.000.000 đồng nên Th lấy tiền từ việc cầm xe mô tô trên có được trả cho Nh. Đến khoảng 10 giờ ngày 09/3/2023 L không thấy Th đến đưa hồ sơ xe theo thỏa thuận nên đã trình báo cơ quan Công an. Đến 14 giờ cùng ngày Th đến Cơ quan Công an đầu thú.
Vật chứng tạm giữ gồm:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vison, màu trắng, số máy: JK03E-0103146, số khung: RLHJK0304NY032484 biển số 62K1-538.66.
- 01 nón kết lưỡi trai mặt trước có hình 02 con cọp màu vàng, mặt sau dạng lưới; 01 áo thun màu xám tay dài, mặt trước có chữ E P N; 01 quần jean dài màu xanh.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 26/KL.ĐGTS ngày 14/3/2023 của Hội đồng định giá Tố tụng hình sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vison, màu trắng, số máy: JK03E-0103146, số khung: RLHJK0304NY032484 biển số 62K1-538.66, tr giá: 36.630.000 đồng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Quốc Th có 01 tiền án về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị can Trần Quốc Th thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Về xử L vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vison, màu trắng, số máy: JK03E-0103146, số khung: RLHJK0304NY032484 biển số 62K1-538.66 là tài sản của ông Phạm Văn Gi bị Th chiếm đoạt đem đến tiệm cầm đồ Đức Tuấn (24h) thuộc ấp M, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An do ông Nguyễn Văn Anh, sinh năm 1985, nơi cư trú: Số 247, ấp M, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm chủ. Ông Anh giao lại tiệm cầm đồ Đức Tuấn (24h) cho ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1990, nơi cư trú: Xóm Hậu Hòa, xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An quản lý và quyết định cầm cố tài sản, Th đem xe mô tô biển số 62K1-538.66 đến tiệm thì ông L cầm cho Th với giá 10.000.000 đồng. Khi ông Anh và ông L biết được đó là tài sản do trộm cắp mà có thì ông Anh yêu cầu ông L tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Hiện nay, Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vison, màu trắng, số máy: JK03E-0103146, số khung: RLHJK0304NY032484 biển số 62K1-538.66; 01 nón kết lưỡi trai mặt trước có hình 02 con cọp màu vàng, mặt sau dạng lưới; 01 áo thun màu xám tay dài, mặt trước có chữ E P N; 01 quần jean dài màu xanh.
Phần dân sự: Ông Đặng Minh Tr, sinh năm 1993, nơi cư trú: 1/7 Lê Thị Điền, phường 3, thành phố T, tỉnh Long An là đại điện theo ủy quyền của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn HD Saison yêu cầu ông Phạm Văn Gi là phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thế chấp số 230612-7-CCO ngày 12/6/2023 cho Công ty.
Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSĐH ngày 05 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Quốc Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo gây ra; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Quốc Th mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
Tang vật: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 trả lại cho ông Gi 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vison, màu trắng, số máy: JK03E-0103146, số khung: RLHJK0304NY032484 biển số 62K1-538.66; 01 nón kết lưỡi trai mặt trước có hình 02 con cọp màu vàng, mặt sau dạng lưới; 01 áo thun màu xám tay dài, mặt trước có chữ E P N; 01 quần jean dài màu xanh.
Về trách nhiệm dân sự: ông L và ông A không có yêu cầu bị cáo bồi Th gì về số tiền mà các ông đưa cho bị cáo Th để cầm xe nên không đề cập xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xuất phát từ việc Trần Quốc Th không có việc làm nhưng muốn có tiền để sử dụng tiêu xài cá nhân và chơi geam không cần phải lao động nên khoảng 03 giờ 15 phút ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại nhà trọ biển hiệu Hòa Thuận thuộc ấp Mới 2, xã M, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Trần Quốc Th cùng với một người tên Nh (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 62K1-538.66 của ông Phạm Văn Giới tr giá 36.630.000 đồng, Th đem đi cầm cố được 10.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Đến 14 giờ ngày 09/3/2023 Th đến cơ quan Công an đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Tổng số tài sản Th chiếm đoạt của ông Gi có tr giá là 36.630.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Th đã vi phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Lời khai nhận của bị cáo Trần Quốc Th trước Tòa phù hợp với lời khai của bị hại Phạm Văn Gi, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án như Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn Anh, Trnh Văn H, Nguyễn Trung Tr, Đặng Minh Tr và Trần Trương Thanh N phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, sơ đồ hiện trường, phù hợp biên bản thu giữ vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Trần Quốc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo Th được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Quốc Th với tội danh và Điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này của Trần Quốc Th đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ông Gi được pháp luật Hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo Th không những xâm hại trực tiếp đến tài sản hợp pháp của ông Gi mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý theo pháp luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và bị cáo có đến cơ quan công an đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng cần thiết cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Về tình tiết tăng nặng bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Ông L và ông A không có yêu cầu gì về việc buộc bị cáo trả lại 10.000.000 đồng nên không đề cập xem xét. Ông Gi không có yêu cầu bị cáo bồi Th vấn đề gì nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 trả lại cho ông Gi 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vison, màu trắng, số máy: JK03E-0103146, số khung: RLHJK0304NY032484 biển số 62K1-538.66; 01 nón kết lưỡi trai mặt trước có hình 02 con cọp màu vàng, mặt sau dạng lưới; 01 áo thun màu xám tay dài, mặt trước có chữ E P N; 01 quần jean dài màu xanh.
Về án phí: Bị cáo Trần Quốc Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước.
. Đối với người tên Nh có dấu hiệu đồng phạm với Trần Quốc Th về tội trộm cắp tài sản nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tách hành vi của Nh theo Quyết định tách vụ án số 09 ngày 05/6/2023 để tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quốc Th 02 (Hai) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 09/3/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 27/7/2023 để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 trả lại cho ông Gi 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vison, màu trắng, số máy: JK03E-0103146, số khung: RLHJK0304NY032484 biển số 62K1-538.66; 01 nón kết lưỡi trai mặt trước có hình 02 con cọp màu vàng, mặt sau dạng lưới; 01 áo thun màu xám tay dài, mặt trước có chữ E P N; 01 quần jean dài màu xanh (hiện tài sản này do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa tạm giữ theo biên bản 05/7/2023).
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; buộc bị cáo Trần Quốc Th phải nộp 200.000 đồng án phí HSST sung vào Ngân sách Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án những người tham gia tố tụng có mặt được quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm, những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ .
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; -VKSND tỉnh Long An, - Nhà tạm giữ CA huyện Đức Hòa; - Cơ quan cảnh sát điều tra CA huyện Đức Hòa; -Thi hánh án huyện Đức Hòa -VKSND huyện Đức Hòa; -Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; -Lưu hồ sơ; -Lưu án văn; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mộng Thúy | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mộng Thúy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Trần Thị Kim Hoa -Trương Thị Kim CươTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA |