vanban.org

Bản án 91/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường S phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S 04(bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 04/9/2023. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường Sáng phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường S phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 91/2023/HS-ST
Ngày: 14/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Đoàn Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Hồng Hà và ông Nguyễn Trọng Vần.

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Hoàng Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2023/HSST ngày 25/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST- HS ngày 01/11/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Trường S, sinh năm 1998 tại xã H, huyện B, tỉnh H; nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện B, tỉnh H; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Trường X và bà Vũ Thị T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/9/2023; chuyển tạm giam từ ngày 08/9/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác:

1. Bị hại:

-. Anh Nguyễn Trọng K, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn N, thị trấn L, huyện C, tỉnh H (vắng mặt).

-. Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn C, xã K, huyện N, tỉnh H (vắng mặt).

-. Bà Hoàng Thị A, sinh năm 1975; địa chỉ: thôn T, xã V, huyện C, tỉnh H

(vắng mặt).

Những người bị hại đều có đơn xin vắng mặt.

2. Người làm chứng:

-. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1972(có mặt).

-. Ông Nguyễn Trường X, sinh năm 1976 (có mặt).

-. Chị Lê Thị N, sinh năm 1985 (vắng mặt).

-. Bà Bùi Thị T, sinh năm 1963(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên tháng 8 và tháng 9/2023, Nguyễn Trường S đã thực hiện các hành vi sau:

Hành vi thứ nhất: Đêm ngày 10/8/2023, S đi bộ lang thang trong khu vực thôn Ngọ, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng tìm tài sản hơ hở để lấy. Khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn nhà anh Nguyễn Trọng K, quan sát thấy cổng khóa, trong sân dựng 01 xe đạp mini màu hồng nhạt, gắn ghế ngồi trẻ con phía sau nên S đã trèo qua tường vào trong sân, dùng hai tay bê chiếc xe đạp đưa qua tường thả xe xuống đường, rồi trèo tường ra ngoài đi xe đạp vừa lấy được đến khu đô thị Việt Mỹ, thị trấn Lai Cách ngủ ở ghế đá. Khoảng 07 giờ ngày 11/8/2023, S đi xe đến cửa hàng mua bán xe đạp của chị Lê Thị N ở thôn Gạch, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng bán được 150.000đ. Sau đó chị N bán lại cho khách qua đường với giá 250.000đ.

Hành vi thứ hai: Rạng sáng ngày 22/8/2023, S đi bộ đến thôn Trằm, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng tìm tài sản hơ hở để lấy. Khoảng 02 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn phòng trọ của anh Bùi Văn Đ (quê ở thôn Cúc Bồ, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương), quan sát thấy cổng khóa, bên trong sân dựng chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS màu xanh hồng nên S đã trèo qua tường vào trong sân, dùng hai tay bê chiếc xe đạp qua tường thả xe xuống đường, rồi trèo tường ra ngoài đi xe đạp vừa lấy được đến cổng khu công nghiệp An Phát, thành phố Hải Dương ngủ ở ghế đá. Khoảng 08 giờ cùng ngày, S đi xe đạp đến cửa hàng mua bán xe đạp của bà Bùi Thị T ở số 555 đường Lê Thanh Nghị, phường Lê Thanh Nghị, thành phố Hải Dương bán được 500.000đ; sau đó bà T bán lại cho khách qua đường với giá 700.000đ.

Hành vi thứ ba: Trưa ngày 02/9/2023, S đi bộ trong khu vực thôn Tràng Kỹ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng tìm tài sản sơ hở để lấy. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đi đến đoạn nhà bà Hoàng Thị A, thấy cửa lán để xe mở, bên trong dựng 01 xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu trắng cam; quan sát xung quanh không có người, S đi vào trong lán dắt chiếc xe đạp ra ngoài đường rồi lên xe đi đến cửa hàng mua bán xe đạp của ông Nguyễn Văn B ở thôn Gạch, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng bán được 500.000đ.

Toàn bộ số tiền bán 03 chiếc xe đạp trên, S đã chi tiêu hết. Ngày 03/9/2023, anh Đ có đơn trình báo và cung cấp đoạn video có hình ảnh S. Ngày 04/9/2023, S đầu thú và tự khai nhận hành vi phạm tội ngày 10/8/2023 và ngày 02/9/2023. Ngày 04/9/2023, ông B giao nộp 01 xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu trắng cam. Đối với 01 chiếc xe đạp mini màu hồng nhạt và 01 chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu xanh hồng chị N, bà T đã bán không quản lý được.

Kết luận định giá tài sản số 35/KL- HĐĐG- TTHS ngày 06/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Cẩm Giàng, kết luận: 01 chiếc xe đạp mini, màu hồng, có gắn ghế ngồi trẻ con phía sau, đã qua sử dụng, giá trị 400.000đ; 01 chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu xanh hồng, đã qua sử dụng, giá trị 2.000.000đ; 01 chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu trắng cam, đã qua sử dụng, giá trị 3.500.000đ. Tổng giá trị tài sản là 5.900.000đ.

Về TNDS: Ngày 12/9/2023, bà A đã nhận lại xe. Ngày 06/10/2023, gia đình S đã bồi thường 2.000.000đ cho anh Đ và 400.000đ cho anh K. Bà A, anh Đ, anh K không còn yêu cầu S bồi thường. Ông B không yêu cầu Sáng trả lại 500.000đ.

Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 23/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Nguyễn Trường S về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S từ 04 tháng đến 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ 04/9/2023.

- Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi lấy 03 xe mô tô của anh K, anh Đ và bà A; khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo là đúng; bị cáo không đối đáp tranh luận.

Ông B xác nhận gia đình bị cáo đã tự trả ông 500.000đ và không có yêu cầu khác.

Ông X là chú của bị cáo xác nhận: bị cáo nhắn nhờ bồi thường hộ; ông đã bồi thường hết cho người bị hại và trả tiền cho ông B. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền này.

Lời nói sau cùng trong phiên tòa: bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tư cách tham gia tố tụng: Do ông B, ông X không có yêu cầu giải quyết vấn đề gì trong vụ án, HĐXX xác định ông B, ông X là người làm chứng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai những người bị hại, người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp Kết luận định giá tài sản số 35/KL- HĐĐG- TTHS ngày 06/9/2023 và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 10/8/2023, tại nhà anh Nguyễn Trọng K ở thôn Ngọ, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Trường S trèo tường vào trong sân chiếm đoạt chiếc xe đạp mini màu hồng nhạt, có gắn ghế trẻ em, trị giá 400.000đ của anh K.

Khoảng 02 giờ ngày 22/8/2023, tại nhà anh Bùi Văn Đ ở thôn Trằm, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Trường S trèo tường vào trong sân chiếm đoạt chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu xanh hồng, trị giá 2.000.000đ của anh Đ.

Khoảng 12 giờ ngày 02/9/2023, tại nhà bà Hoàng Thị A ở thôn Tràng Kỹ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Trường S lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản đã lén lút trộm cắp chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu trắng cam, trị giá 3.500.000đ của bà A.

Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 5.900.000đ.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do cần tiền tiêu xài, lười lao động nên bị cáo vẫn cố ý trèo tường vào sân để chiếm đoạt 03 chiếc xe đạp. Xét về hành vi và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Sáng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của anh K, anh Đ, bà A, gây mất trật tự trị an xã hội và tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án tiền sự xác định là người có nhân thân tốt.

Trong ba hành vi trên, đã có 2 hành vi (ngày 22/8/2023 và ngày 02/9/2023), mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập, các lần phạm tội này đều chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; bị cáo đầu thú và tự khai ra hành vi ngày 10/8/2023, 02/9/2023 trong khi người bị hại chưa có đơn trình báo; bị cáo đã nhắn nhờ gia đình khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có xác nhận bị cáo ủng hộ các quỹ; HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX có thể quyết định một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Trách nhiệm dân sự: bà A đã nhận lại xe, anh K và anh Đ đã nhận đủ tiền giá trị xe bị mất; những người bị hại không còn yêu cầu bồi thường. Ông B đã nhận lại 500.000đ; ông X không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại tiền; HĐXX không phải giải quyết.

Về vật chứng: chiếc xe đạp mini màu hồng nhạt, gắn ghế ngồi trẻ con phía sau và chiếc xe đạp thể thao, nhãn hiệu NAKXUS, màu xanh hồng chị N, bà T đã bán cho khách qua đường, không thu hồi được. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả, HĐXX không phải giải quyết.

Các vấn đề khác: chị N, bà T, ông B mua xe đạp trộm cắp của bị cáo nhưng không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Án phí: bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 (đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ, ủng hộ các quỹ) Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường S phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S 04(bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 04/9/2023.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ