- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HS-PT Ngày: 25-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Phạm Thị Đào.
Các"thẩm"phán:"""""""""""""""""""""""""Bà Đoàn Thị Hương Nhu.
Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh.
- Thư ký phiên toà:"Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS-ST ngày 26/5/2023 của Toà án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. "
Bị"cáo"kháng"cáo: Nguyễn Văn C, sinh năm 1975 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Khu dân cư N U, phường L X, thị xã K M, tỉnh H D; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Ch và bà Hoàng Thị H; vợ Nguyễn Thị H; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1999; con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 23/ST ngày 01/10/2003, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn (nay là thị xã Kinh Môn) xử phạt Nguyễn Văn C 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 30/8/2004, Chức chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 29/12/2003, Chức chấp hành xong phần thi hành án dân sự. Ngày 18/7/2007, Công an huyện Kinh Môn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn C về hành vi “Đánh nhau”, hình thức: Phạt tiền: 300.000 đồng, Chức đã nộp phạt ngày 19/7/2007. Ngày 04/5/2014, Công an huyện Kinh Môn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn C về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” (phạt tiền 2.500.000 đồng), Chức đã nộp phạt ngày 05/5/2015. Ngày 11/5/2015, Công an huyện Kinh Môn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn C về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” (phạt tiền 2.500.000 đồng, Chức đã nộp phạt ngày 22/5/2015. Ngày 21/10/2016, Công an huyện Kinh Môn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn C về hành vi “Đánh nhau”, (phạt tiền 750.000 đồng), Chức đã nộp phạt ngày 15/12/2016. Tại Bản án số 09/2018/HSST ngày 06/02/2018, Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn xử phạt Nguyễn Văn C 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/11/2018, Chức chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 01/10/2018, Chức chấp hành xong phần thi hành án dân sự; bị cáo bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 04/01/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Bị"hại"kháng"cáo: Anh Doãn Văn L; sinh năm 1986; địa chỉ: Khu đô thị Thái Hà, phường HS, thị xã KM, tỉnh HD. Có mặt tại phiên tòa.
Người"có"quyền"lợi"và"nghĩa"vụ"liên"quan"không"kháng"cáo: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1988; địa chỉ: KDC N U, phường L X, thị xã K M, tỉnh HD. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người"làm"chứng: Bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn H, ông Định Văn L, anh Hoàng Văn S, anh Vũ Đại T, anh Lê Văn T, ông Bùi Văn D, chị Bùi Thị H. Ông H. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"và"diễn"biến"tại"phiên"tòa,"nội"dung"vụ" án"được"tóm"tắt"như"sau:""
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/4/2022, anh Doãn Văn L; sinh năm 1986; trú tại: Khu đô thị Thái Hà, phường Hiệp Sơn, thị xã Kinh Môn đến quán bia của gia đình ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị D ở KDC Ngư Uyên, phường Long Xuyên, thị xã Kinh Môn để uống bia cùng với ông Đinh Văn L; sinh năm 1969; trú tại: KDC Huyền Tụng, phường Hiến Thành, thị xã Kinh Môn và các anh Vũ Văn Kh; sinh năm 1972; trú tại: Phường Thái Thịnh, thị xã Kinh Môn; Vũ Đại Thạch; sinh năm 1994; trú tại: KDC Tử Lạc 2, phường Minh Tân, thị xã Kinh Môn; Hoàng Văn S; sinh năm 1997; trú tại: KDC Tây Sơn, phường Hiệp An, thị xã Kinh Môn. Đến khoảng hơn 19 giờ cùng ngày, anh L đi ra khu vực vườn cây trước cửa quán bia để đi vệ sinh thì cùng lúc đó có Nguyễn Văn C đi bộ từ nhà ra khu vực vườn cây trước cửa quán bia của gia đình ông H bà D. C vừa đi vừa nói chuyện qua điện thoại với bạn là anh Phạm Ngọc D; sinh năm 1981 ở Ngũ Phúc, Kim Thành, Hải Dương. Quá trình nói chuyện với anh D, C có chửi bậy qua điện thoại, anh L nghĩ bị C chửi nên anh L có chửi lại C, hai bên xảy ra cãi chửi nhau to tiếng. Thấy vậy ông H và bà D ra can ngăn, C đi về phía nhà anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1988; trú tại: KDC Ngư Uyên, phường Long Xuyên, thị xã Kinh Môn (em trai Chức) cách đó khoảng 15 đến 20m thì anh L đi theo sau vừa đi vừa chửi Chức.
2
Ông H và bà D ra can ngăn kéo anh L về quán nhưng không được. Lúc này ông H quay lại quán để hút thuốc lào và bảo ông Lập là bạn uống bia cùng anh L ra can ngăn, còn bà D vẫn tiếp tục can ngăn anh L và C. Thấy anh L vẫn tiếp tục chửi thì C đi vào sân nhà anh Bách lấy chiếc điếu cày bằng tre dài 57cm, đường kính 4,8cm phần miệng có bọc kim loại sáng màu, phía dưới được quấn băng dính màu đen độ dài 20cm, bên dưới được quấn băng dính màu trắng độ dài 25cm, nõi điếu bằng kim loại sáng màu đi ra chỗ anh L đứng ở đường khu vực trước cửa cuốn nhà anh Bách. C cầm điếu cày bằng hai tay thúc mạnh một cái vào vùng bụng bên trái anh L. Anh L tiếp tục chửi bới và lao về phía C đòi đánh thì được bà D, ông H cùng một số người có mặt ở đó can ngăn. Sau khi được mọi người can ngăn thì anh L quay lại quán bia lấy xe máy đi về nhà ngủ. Đến sáng ngày hôm sau (14/4/2022), anh L ngủ dậy thấy đau bụng tại vị trí bị C đánh nên gọi điện thoại cho anh Hoàng Văn S làm cùng Công ty Cổ phần tập đoàn SYSTEM FAN GLOBAL với anh L nhờ anh S xin nghỉ làm. Đến 13 giờ 13 phút cùng ngày, do đau bụng quá nên anh L gọi điện cho anh Lê Văn T, sinh năm 1984 là hàng xóm nhờ anh T đưa đến phòng khám Bảo An ở phường Hiệp Sơn, thị xã Kinh Môn và Trung tâm y tế thị xã Kinh Môn khám. Sau đó anh L được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải phòng và Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp, Hải Phòng khám và điều trị đến ngày 25/4/2022 anh L ra viện. Đến ngày 14/7/2022 anh L điều trị mổ đóng hậu môn nhân tạo tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức đến ngày 22/7/2022 thì ra viện.
Tại biên bản làm việc của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Kinh Môn với Phòng khám đa khoa Bảo An, Bác sỹ Trần Ngọc Đại trực tiếp thăm khám cho anh L cung cấp: Bệnh nhân Luân có đến phòng khám vào hồi 13 giờ 53 phút ngày 14/4/2022 để thăm khám. Sau khi thăm khám thấy bệnh nhân bị đau tại bụng trái, ấn tại phần bụng trái có phản ứng cơ thành bụng trái, có vết ửng đỏ ở phần bụng trái không rõ hình và kích thước, không có vết trầy xước, rách da, chuẩn đoán chấn thương tạng đặc nên hướng dẫn bệnh nhân chuyển tuyến để điều trị kịp thời.
Tại biên bản làm việc của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Kinh Môn với phòng khám ngoại - Trung tâm y tế thị xã Kinh Môn, Bác sỹ Hoàng Hà trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân Luân cung cấp: Khoảng 14 giờ ngày 14/4/2022, anh L được một người bạn đưa vào phòng khám. Anh L khai bị một vật cứng đập vào bụng trái vào tối ngày 13/4/2022, đau bụng không thể nằm được. Bác sỹ Hà đã chỉ định sử dụng giảm đau truyền dịch, sau đó xác định vị trí đau của anh L tại phần bụng trái, ngang rốn, sưng nề tại vị trí đó, không xác định diện tích. Siêu âm ổ bụng xác định theo dõi vỡ lá lách và chỉ định chuyển tuyến, anh L xin chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng để điều trị.
3
Tại bản tóm tắt hồ sơ bệnh án của Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng xác định thương tích của anh Doãn Văn L: Chấn thương bụng kín, vỡ lách độ II.
Tại Bệnh án của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Hải Phòng xác định thương tích của anh Doãn Văn L: Chấn thương bụng kín, vỡ lách, rách mạc treo đại tràng và thanh cơ đại tràng sigma.
Tại Bệnh án ngoại của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức xác định thương tích của anh Doãn Văn L khi vào viện còn hậu môn nhân tạo.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 211/TgT ngày 06/7/2022 và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 67/TgT-BS ngày 10/3/2023, Trung tâm pháp y - Sở y tế Hải Dương kết luận: Anh Doãn Văn L bị chấn thương bụng kín gây vỡ lách, rách thanh mạc và mạc treo đại tràng sigma, chảy máu ổ bụng, đã mổ cắt lách, khâu mạc treo thanh cơ đại tràng, đưa đại tràng Sigma làm hậu môn nhân tạo. Hiện đã đóng hậu môn nhân tạo, để lại 04 sẹo mổ, đóng hậu môn nhân tạo, dẫn lưu kích thước lớn và nhỏ. Tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra, anh L bị người khách dùng vật dạng điếu cày đánh gây ra là phù hợp. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 66%.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Kinh Môn đã thu giữ 01 điếu cày bằng tre dài 57cm, đường kính 4,8cm, phần miệng có bọc kim loại sáng màu, phía dưới quấn băng dính màu đen trên độ dài 20cm, phía dưới được quấn băng dính màu trắng trên độ dài 25cm, nõ điếu bằng kim loại sáng màu.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi gây thương tích cho anh L đến nay bị cáo Chức chưa bồi thường thiệt hại. Nay anh L yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi của bị cáo gây ra với số tiền là 161.299.532 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Toà án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ- HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2023. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Văn C phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho
4
anh Doãn Văn L; sinh năm 1986; địa chỉ: Khu đô thị Thái Hà, phường Hiệp Sơn, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương số tiền là 133.049.532 đồng. Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Ngày 31/5/2023 bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường.
Tại phiên tòa: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo rất ăn năn về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo, tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự, yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 161.299.532 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C và chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Doãn Văn L. Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ- HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích". Xử phạt bị cáo 07 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2023. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 145.579.532đ. Về án phí dân sự: Bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Về án phí phúc thẩm. Bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về"tố"tụng: Bị cáo kháng cáo, bị hại kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xác định là kháng cáo là hợp lệ. HĐXX phúc thẩm sẽ xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về"nội"dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai bị hại, người làm chứng, biên bản hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 19 giờ ngày 13/4/2022, tại khu vực trước cửa quán bia của gia đình ông
5
Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị D ở KDC Ngư Uyên - phường Long Xuyên - thị xã Kinh Môn - tỉnh Hải Dương, do có mâu thuẫn Nguyễn Văn C đã có hành vi dùng chiếc điếu cày bằng tre dài 57cm, đường kính 4,8cm, phần miệng có bọc kim loại sáng màu, phía dưới quấn băng dính màu đen trên độ dài 20cm, phía dưới được quấn băng dính màu trắng độ dài 25cm, nõi điếu bằng kim loại sáng màu đánh một cái vào vùng bụng bên trái anh Doãn Văn L gây thương tích. Hậu quả anh L bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 66%. Xét, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc dùng điếu cày có bọc kim loại thúc vào bụng người khác sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của họ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo dùng điếu cày bọc kim loại để gây thương tích cho người bị hại, theo hướng dẫn tại Nghị Quyết 01/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì điếu cày bọc kim loại được xác định là “hung khí nguy hiểm” (theo điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS) gây ra thương tích cho bị hại 66% nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về tội danh đối với bị cáo.
Xét kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. HĐXX xét thấy: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố được tặng thưởng huân chương, huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, đồng thời căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và xử phạt bị cáo 07 năm 03 tháng tù là phù hợp. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là tác động đến gia đình để gia đình tự nguyện nộp án phí dân sự, án phí hình sự sơ thẩm, một phần tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại nên HĐXX phúc thẩm sẽ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo tăng mức hình phạt của bị hại đối với bị cáo.
. Đối với kháng cáo tăng mức bồi thường của bị hại. Anh Doãn Văn L yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại các khoản gồm: Chi phí cứu chữa, bồi dưỡng sức khỏe là 62.519.532 đồng; tiền mất thu nhập là 46.800.000 đồng; tiền bù đắp
6
tổn thất về tinh thần là 52.150.000 đồng. Tổng là 161.299.532 đồng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, anh L không xuất trình thêm cho Tòa án hóa đơn, chứng từ liên quan yêu cầu bồi thường. HĐXX đánh giá từng yêu cầu của bị hại như sau:
- Đối với khoản chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút: Anh L không kháng cáo tăng mức bồi thường nên cấp phúc thẩm không phải xem xét, giải quyết.
- Về khoản tiền mất thu nhập: Đối với bản thân anh L: Trước khi bị Nguyễn Văn C gây thương tích, anh L làm việc tại Công ty cổ phần tập đoàn Systempan Global thuộc phường Long Xuyên, thị xã Kinh Môn bắt đầu từ ngày 07/3/2022. Anh L làm ở bộ phận lắp ráp, đang trong thời gian thử việc tại công ty với tiền lương trung bình là 7.000.000 đồng. Sau khi đi điều trị tại Bệnh viện do sức khỏe yếu nên anh L không đi làm, Công ty đã cho nghỉ việc. Từ đó đến nay anh L vẫn chưa có công việc mới. Anh L xác định trong thời gian 6 tháng kể từ ngày bị Chức gây thương anh phải đi điều trị 2 lần và phải dưỡng thương, chưa thể đi làm. Đến tháng 10/2022, anh mới bình phục và có thể đi làm việc được. Do vậy anh yêu cầu bị cáo Chức phải bồi thường tiền mất thu nhập với thời gian là 6 tháng (từ 14/4/2022 đến 14/10/2022), mỗi tháng 7.000.000 đồng, tổng là 42.000.000 đồng. Tuy nhiên theo Bệnh án của anh L tại các Bệnh viện trong hai lần điều trị thì khoảng thời gian anh L mất việc không lao động được là 109 ngày (từ 14/4/2022 đến 31/7/2022). Về thu nhập bị mất. Theo Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự thì anh L nghỉ việc trong thời gian đang thử việc được hơn 01 tháng nên không có căn cứ áp dụng mức tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xẩy ra. Trường hợp của bị hại không xác định được 03 tháng liền kề thì sẽ được áp dụng theo thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập bị mất. Trường hợp không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại thì thu nhập thực tế bị mất sẽ được áp dụng theo ngày lương tối thiểu vùng nơi người bị thiệt hại cư trú. Trong trường hợp của của anh L, cấp sơ thẩm chưa xác minh thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương mà áp dụng ngay mức lương tối thiếu vùng là chưa chính xác. Cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh thu nhập trung bình cùng loại với việc làm của bị hại, kết quả thể hiện thu nhập cùng loại cũng tương đương với mức thu nhập theo mức lương tối thiểu vùng nên cấp phúc thẩm giữ nguyên mức áp dụng theo ngày của cấp sơ thẩm là 140.000đ/ngày. Về số ngày mất thu nhập. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định bị cáo bị mất thu nhập 109 ngày. Tuy nhiên cấp sơ thẩm lại áp dụng cách tính lương theo ngày để đánh giá một tháng có 26 ngày là chưa phù hợp.
7
Cấp phúc thẩm sẽ sửa lại. Cụ thể 109 ngày x 140.000đ/ngày = 15.260.000đ. Đối với người chăm sóc: Anh L không đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại nên giữ nguyên mức bồi thường của cấp sơ thẩm là 4.800.000đ.Về tiền bù đắp tổn thất về tinh thần: Cấp sơ thẩm chấp nhận cho bị cáo 35 tháng lương cơ sở là có căn cứ. Tại thời điểm xét xử phúc thẩm, mức lương cơ sở của người lao động được tăng lên 1.800.000đ nên cấp phúc thẩm cũng sửa lại nhằm đảm bảo quyền lợi của bị hại. Cụ thể 35 tháng lương cơ sở x 1.800.000đ/tháng = 63.000.000đ. Từ phân tích trên, HĐXX có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 145.579.532đ. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp vào cơ quan thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn số tiền bồi thường là 43.049.532đ. Cơ quan thi hành án làm thủ tục giao số tiền trên cho bị hại. Do vậy, số tiền bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại là 102.530.000đ.
Từ những phân tích trên, HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt và phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Chức.
Về án phí dân sự và hình sự sơ thẩm: Do HĐXX phúc thẩm sửa phần trách nhiệm dân sự nên phần án phí dân sự sơ thẩm cũng phải sửa cho đúng quy định. Bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.278.977đ nhưng được đối trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 6.652.000đ. Bị cáo còn phải nộp tiếp số tiền còn thiếu. Về án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã nộp đủ án phí 200.000đ.
. Về án phí hình sự phúc thẩm. Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
[1]. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C về phần hình phạt. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Doãn Văn L về phần trách nhiệm
8
dân sự. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Căn cứ điểm d khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ- HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/01/2023.
[2]. Về trách nhiệm dân sự. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Doãn Văn L số tiền 145.579.532đ nhưng được trừ vào số tiền bồi thường mà gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp là 43.049.532đ tại Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn theo biên lai thu số AA/2020/0000259 ngày 05/6/2023. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại anh Doãn Văn L số tiền là 102.530.000đ. (Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn làm thủ tục bàn giao số tiền 43.049.532đ cho anh L).
[3]. Về án phí dân sự và hình sự sơ thẩm. Bị cáo phải chịu 7.278.977đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Tại bản án số 45/2023/HSST ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tuyên. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 6.652.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 05/6/2023 bị cáo đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ và 6.652.000đ theo biên lai thu số AA/2020/0000259 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo còn phải nộp tiếp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 626.977đ.
[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án 25/7/2023./.
Nơi nhận:"
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM -VKSND"tỉnh"Hải"Dương;"
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa -Phòng"HSNV-Công"an"tỉnh"Hải"Dương;" -Sở"Tư"pháp"tỉnh"Hải"Dương;" -TAND,"VKSND,"CQCSĐT,"CQ"T.H.A"hình"
9
sự"và"Chi"cục"THADS"thị"xã"Kinh"Môn." -"Bị"cáo,"Những"người"tham"gia"tố"tụng;" -Lưu"hồ"sơ."
Phạm Thị Đào. Văn"phòng."
10
| Nơi nhận:" -VKSND"tỉnh"Hải"Dương;" -Phòng"HSNV-Công"an"tỉnh"Hải"Dương;" -Sở"Tư"pháp"tỉnh"Hải"Dương;" -TAND,"VKSND,"CQCSĐT,"CQ"T.H.A"hình" sự"và"Chi"cục"THADS"TP."Chí"Linh." -"Bị"cáo;"Người"bào"chữa;" -Lưu"hồ"sơ,"Văn"phòng." 11 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Đào. |