- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn L về việc xin được hưởng án treo; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/HS-PT Ngày: 08-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trúc Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Phan Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Bị cáo kháng cáo:
Phan Văn L, sinh ngày 01/01/1967 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã Ph, huyện Tr, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị A (đã chết); vợ tên Nguyễn Thị Th và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại: Bà Tô Thị T1, sinh năm 1962 (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp Tân L, xã Ph, huyện Tr, tỉnh Cà Mau
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn Trung của Văn phòng Luật sư Quốc Khởi thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 05/5/2022, do Phan Văn L có mâu thuẫn với ông Nguyễn Văn Th1 (A rể của L) từ trước nên khi L đi nhậu về đến nhà bà Nguyễn Thị A (bà A đã chết, mẹ ruột của L) thuộc ấp Tân L, xã Ph, huyện Tr, tỉnh Cà Mau. Hiện nhà bà A do vợ chồng ông Th1 quản lý, sử dụng. Sau đó, L đi vào nhà dùng tay xô ngã bàn đá, tủ chén, thùng nhựa, bếp gas, trong lúc cự cãi chửi ông Th1 thì L tay trái cầm cái xoong (nồi) bằng kim loại màu đen dùng để đốt tiền vàng mã để ở dưới chân bàn thờ của bà A rượt đánh ông Th1 chạy ra đến lộ phía trước nhà bà A. Lúc này, bà Tô Thị T1 đi công chuyện về ngang thấy L cầm xoong đuổi đánh ông Th1 nên hỏi L “có chuyện gì vậy anh chín”. Lúc này L không đuổi đánh ông Th1 nữa mà tay trái cầm cái xoong đánh trúng vào vùng mặt của bà T1 01 cái thì bà T1 dùng hai tay ôm mặt bỏ chạy. L tiếp tục đuổi theo dùng xoong đánh từ sau tới trúng phía sau đầu của bà T1 01 cái, bà T1 chạy về nhà đóng cửa lại. Sau đó, bà T1 được người nhà đưa vào điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Đến ngày 06/6/2022, Tô Thị T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 97/TgT-22 ngày 07/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau, kết luận đối với thương tích Tô Thị T1 như sau:
- 01 vết sẹo vùng chẩm trái, kích thước 3,5cm x 0,1cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Tỷ lệ 01%.
- 01 vết sẹo môi trên bên phải, kích thước 0,8cm x 0,1cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Tỷ lệ 03%.
- 01 vết sẹo niêm mặc miệng vùng môi trên bên phải, kích thước 0,5cm x 0,1cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Tỷ lệ 01%.
- 01 vết sẹo giữa sống mũi, kích thước 0,5cm x 0,2cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Tỷ lệ 03%.
- Gãy xương mũi do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Tỷ lệ 08%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%.
Kết luận giám định số 4083/KL-KTHS ngày 05/8/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 cái xoong (nồi) bằng kim loại màu đen đã bị biến dạng là hung khí nguy hiểm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 09/6/2023, Tòa án nhân huyện Trần Văn Thời đã quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 19/6/2023, bị cáo L kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 09/6/2023 của Tòa án nhân huyện Trần Văn Thời về phần hình phạt, đề nghị không áp dụng điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt dưới khung và cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bà T1 trình bày: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào ngày 05/5/2022, ngoài hành vi cố ý gây thương tích, bị cáo Phan Văn L còn có hành vi đập phá tài sản của ông Phan Hoàng B. Kết quả định giá xác định tài sản bị đập phá có giá trị 43.752 đồng. Tuy nhiên, ông B không có yêu cầu bồi thường. Ngày 21/11/2022, Trưởng Công an huyện Trần Văn Thời đã ra Quyết định số 511QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính 04 triệu đồng đối với bị cáo. Do đó, cấp sơ thẩm đưa ông B tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền L, nghĩa vụ liên quan là không cần thiết.
Quá trình điều tra ở cấp sơ thẩm xác định: Khoảng 18 giờ ngày 05/5/2022, tại đoạn lộ nhựa phía trước nhà bà Nguyễn Thị A thuộc ấp Tân L, xã Ph, huyện Tr, tỉnh Cà Mau, Phan Văn L (con của bà A) dùng cái xoong (nồi) bằng tay trái đánh trúng vào vùng mặt của bà Tô Thị T1 (bà T1 là em dâu bà con với L) 01 cái thì bà T1 dùng hai tay ôm mặt bỏ chạy, L tiếp tục đuổi theo dùng xoong đánh từ sau tới trúng phía sau đầu của bà T1 01 cái nữa. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 97/TgT-22 ngày 07/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau xác định bà T1 có các thương tích, gồm: 01 vết sẹo vùng chẩm trái, kích thước 3,5cm x 0,1cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra, tỷ lệ 01%; 01 vết sẹo môi trên bên phải, kích thước 0,8cm x 0,1cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra, tỷ lệ 03%; 01 vết sẹo niêm mạc miệng vùng môi trên bên phải, kích thước 0,5cm x 0,1cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra, tỷ lệ 01%; 01 vết sẹo giữa sống mũi, kích thước 0,5cm x 0,2cm do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra, tỷ lệ 03%; Gãy xương mũi do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra, tỷ lệ 08%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 15%. Kết luận giám định số 4083/KL-KTHS ngày 05/8/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận 01 cái xoong (nồi) bằng kim loại màu đen đã bị biến dạng là hung khí nguy hiểm. Với các tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã xét xử bị cáo L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm về sức khỏe của công dân, làm mất an ninh trật tự của địa phương. Bị cáo dùng cái xoong đánh bà T1 gây thương tích với tỷ lệ 15% trong khi hai bên không có mâu thuẫn với nhau, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, tính mạng và sức khỏe của người khác. Cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ là đúng. Bị cáo gây thương tích cho người khác là trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.
Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại được 12.000.000 đồng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định. Mặt khác, tình tiết này đã định khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự nên cần được điều chỉnh lại cho đúng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có nộp thêm tiền bồi thường thiệt hại được 08 triệu đồng và không áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo, căn cứ khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ mức hình phạt tù cho bị cáo là phù hợp.
Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau không được chấp nhận; ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo được chấp nhận một phần.
Đối với số tiền bồi thường thiệt hại bị cáo nộp sau khi xét xử sơ thẩm sẽ được đối chiếu và khấu trừ trong quá trình thi hành án.
Do sửa án sơ thẩm, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn L về việc xin được hưởng án treo; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2023/HS-ST ngày 09 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời về phần hình phạt.
2. Xử phạt bị cáo Phan Văn L 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng bị cáo L nộp theo Biên lai thu tiền số 0001770 ngày 08/9/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời phát hành được đối chiếu và khấu trừ trong quá trình thi hành án. Bà Tô Thị T1 được quyền nhận số tiền này tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời.
4. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời; - Công an huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |