vanban.org

Bản án 91/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị H. Cho chị Thái Thị H được ly hôn với anh Chu Văn C.

Về con cái: Giao con chung là cháu Chu Thái H1, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2019 cho chị Thái Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thái Thị H - Chu Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị H. Cho chị Thái Thị H được ly hôn với anh Chu Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2023
V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :

Ông Trần Hoài Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hà.

Ông Nguyễn Hữu Tường.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Luyện Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thái Thị H. Sinh năm: 1989.

Trú tại: Xóm TTr, xã TT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Có mặt.

- Bị đơn: Anh Chu Văn C. Sinh năm: 1987.

Trú tại: Xóm TTr, xã T

.0T, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Thái Thị H trình bày: Chị và anh Chu Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã TT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vào ngày 26 tháng 9 năm 2011. Sau khi kết hôn thì hai người chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian và đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay thì hai người sống ly thân, giữa hai người không còn quan tâm, chăm sóc gì lẫn nhau nữa. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, quan hệ vợ chồng không còn tình cảm và không còn hạnh phúc. Vì vậy, chị Thái Thị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Chu Văn C.

Về quan hệ con cái: Chị Thái Thị H và anh Chu Căn C có hai con chung là cháu Chu Văn Ph, sinh ngày 28 tháng 6 năm 2012 và cháu Chu Thái H1, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2019. Nếu ly hôn thì chị H nhận nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh C phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho mỗi cháu. Ngoài ra, hai người không nhận nuôi con nuôi và không ai có con riêng.

Về tài sản: Chị Thái Thị H yêu cầu phân chia tài sản chung là giá trị quyền sử dụng đối với thửa đất số 29, tờ bản đồ số 54 tại xóm TTr, xã TT, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã được Ủy ban nhân dân huyện Yên Thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Chu Văn C và bà Thái Thị H vào ngày 05/10/2018.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay thì chị H thay đổi và rút một phần nội dung khởi kiện, đó là, xin nhận nuôi dưỡng cháu H1 và để cho anh C nuôi dưỡng cháu Ph, không bên nảo phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; rút yêu cầu về việc phân chia tài sản chung.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Chu Văn C trình bày: Bản thân anh C nhận thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị H vẫn đang bình thường, mâu thuẫn chưa thực sự nghiêm trọng đến mức phải ly hôn. Anh C mong muốn vợ chồng đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc gia đình và nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, nếu Tòa án giải quyết vợ chồng phải ly hôn thì anh C xin nhận nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Sau khi Tòa án tiến hành mở các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì anh C đều vắng mặt.

Quá trình giải quyết vụ án, con chung của chị H và anh C - Cháu Chu Văn Ph trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Quá trình giải quyết vụ án và chuẩn bị xét xử, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Thành đã tiến hành niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập phiên tòa theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị H được ly hôn với anh C, giao cho chị H nuôi dưỡng cháu Chu Văn H1, giao cho anh C nuôi dưỡng cháu Chu Văn Ph và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên. Áp dụng điều 147 BLTTDS, buộc chị H phải chịu án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa chị Thái Thị H và anh Chu Văn C là “Ly hôn”. Vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 BLTTDS.

Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Chu Văn C có mặt 01 lần theo Giấy triệu tập của Tòa án và sau đó thì liên tiếp vắng mặt. Đây là lần thứ hai Tòa án mở phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Xét thấy, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị Thái Thị H thay đổi và rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ khoản 2 Điều 71 và khoản 2 Điều 244 BLTTDS, chấp nhận sự thay đổi yêu cầu về nuôi dưỡng con chung và đình chỉ yêu cầu về nghĩa vụ cấp dưỡng và phân chia tài sản chung của chị Thái Thị H.

Về nội dung:

Quan hệ tình cảm: Hôn nhân giữa chị Thái Thị H và anh Chu Văn C được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn và nay đã sống ly thân. Hai người đã không còn quan tâm hay còn tình cảm với nhau nữa, vì vậy chị H nhất quyết ly hôn. Thấy rằng, hôn nhân của chị H - anh C không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, nên chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị Thái Thị H được ly hôn với anh Chu Văn C, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Quan hệ con cái: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là cháu Chu Thái H1 và để cho anh C nuôi dưỡng cháu Chu Văn Ph. Bản thân anh C có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét thấy, hiện nay chị H và anh C đã sống ly thân, cháu H1 đang nhỏ tuổi và cần sự chăm sóc của người mẹ. Bản thân cháu Ph có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì ở với mẹ. Tuy nhiên, chị H và anh C có 02 người con chung, cần phân chia quyền nuôi con chung cho các bên phù hợp để đảm bảo điều kiện kinh tế cũng như sự chăm sóc và điều kiện nuôi dưỡng. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung là cháu Chu Thái H1 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung là cháu Chu Văn Ph cho anh C chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên.

Quan hệ tài sản: Chị Thái Thị H đã rút yêu cầu phân chia tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản. Vì vậy, đình chỉ yêu cầu của chị H về việc yêu cầu giải quyết quan hệ tài sản.

Về án phí: Cần buộc chị Thái Thị H phải chịu án phí DSST theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 147 và Điều 244 BLTTDS;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14;

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị H. Cho chị Thái Thị H được ly hôn với anh Chu Văn C.

2. Về con cái:

- Giao con chung là cháu Chu Thái H1, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2019 cho chị Thái Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.

- Giao con chung là cháu Chu Văn Ph, sinh ngày 28 tháng 6 năm 2012 cho anh Chu Văn C chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.

- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các bên.

- Các bên có quyền đi lại, thăm nom và giáo dục con chung không ai được cản trở.

- Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn và cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị H về yêu cầu anh Chu Văn C thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị H về yêu cầu giải quyết phân chia tài sản chung vợ chồng.

3. Về án phí: Chị Thái Thị H phải chịu 300.000đ án phí DSST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000903 ngày 09/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Trả lại cho chị Thái Thị H số tiền 710.000đ (Bảy trăm mười nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Chị Thái Thị H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Anh Chu Văn C có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ