vanban.org

Bản án 91/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử …

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị D được ly hôn với anh Trần Văn Điện Về trách nhiệm nuôi con: Giao các cháu Trần Thị Ngọc V, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2011 và Trần Phương Th, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2020 cho chị Thái Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Thị Quỳnh V, sinh ngày 28 tháng 10 nă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử …
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 91/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26 tháng 5 năm 2023
V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH NA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thiết Hùng

Bà Nguyễn Thị Thảo Hường

Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Xuân Tráng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tc, tỉnh NA.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tc, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xét xử công khai vụ án thụ lý số 28/ 2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Thái Thị D sinh năm 1988; Nơi ĐKNKTT: Thôn Trung Long, xã TL, huyện Tc, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Trần Văn Điện, sinh năm 1986; Nơi ĐKNKTT: Thôn Trung Long, xã TL, huyện Tc, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai nguyên đơn chị Thái Thị D trình bày:

Chị và anh Trần Văn Đkết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An vào ngày 21 tháng 12 năm 2007.

Sau khi kết hôn xong vợ chồng về làm ăn, sinh sống tại Thôn Trung Long, xã Thanh Lĩnh, huyện Tc, tỉnh NA. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc cho đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và cũng kể từ đó vợ chồng đã sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên nguyện vọng của chị là muốn được ly hôn với anh Trần Văn Điện.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Trần Thị Ngọc V, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2011, Trần Thị Quỳnh V, sinh ngày 28 tháng 10 năm 2013 và Trần Phương Th, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2020. Hiện nay cháu Trần Thị Quỳnh V đang sống cùng với anh Trần Văn Điện, còn các cháu Trần Thị Ngọc V và Trần Phương Th đang sống cùng với chị. Nay vợ chồng ly hôn nhau nguyện vọng của chị là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thị Ngọc V và cháu Trần Phương Th, còn cháu Trần Thị Quỳnh V để cho anh Trần Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị yêu cầu anh Trần Văn Đ góp cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phương Th mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Hiện nay vợ chồng không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Văn Đđều cố tình vắng mặt cho nên không thể tiến hành lấy lời khai của anh về những vấn đề chị Thái Thị D yêu cầu. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Trần Quốc L là bố đẻ của anh Trần Văn Đthì ông Trần Quốc Linh cho biết: Anh Trần Văn Đvà chị Thái Thị D kết hôn với nhau vào năm 2017. Sau đó vợ chồng sống với nhau hạnh phúc cho đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và cũng kể từ đó anh Trần Văn Đ và chị Thái Thị D sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ cho đến nay.

Anh Trần Văn Đvà chị Thái Thị D có 03 con chung là cháu Trần Thị Ngọc V, sinh năm 2011, Trần Thị Quỳnh V, sinh năm 2013 và Trần Phương Th, sinh 2020. Hiện nay cháu Trần Thị Quỳnh V đang sống cùng với ông và anh Trần Văn Điện, còn các cháu Trần Thị Ngọc V và cháu Trần Phương Th đang sống cùng với chị Thái Thị D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tc, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị D được ly hôn với anh Trần Văn Điện

Về trách nhiệm nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc V, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2011 và Trần Phương Th, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2020 cho chị Thái Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Thị Quỳnh V, sinh ngày 28 tháng 10 năm 2013 cho anh Trần Văn Đtrực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Trần Văn Đgóp cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phương Th mỗi tháng từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng.

Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Thái Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã Thanh Lĩnh, huyện Tc, tỉnh NA. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tc, tỉnh NA.

Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù bị đơn anh Trần Văn Đđã nhận được các văn bản tố tụng nhưng đều cố tình vắng mặt. Cho nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn vắng mặt. Nhưng nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Đây là phiên tòa mở lại lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng cho nên Hội đồng xét xử xét thấy việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Chị Thái Thị D và anh Trần Văn Đkết hôn với nhau hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống với nhau hạnh phúc cho đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay chị Thái Thị D xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên có nguyện vọng được ly hôn với anh Trần Văn Điện. Anh Trần Văn Đmặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh đều cố tình vắng mặt. Điều đó cũng thể hiện việc anh không xem trọng mối quan hệ hôn nhân này. Xét thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng. Nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì chỉ là hình thức chứ mục đích hôn nhân không đạt được cho nên cần chấp nhận cho chị Thái Thị D được ly hôn với anh Trần Văn Đlà đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Trần Thị Ngọc V, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2011, Trần Thị Quỳnh V, sinh ngày 28 tháng 10 năm 2013 và Trần Phương Th, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2020. Nay ly hôn nguyện, vọng của chị Thái Thị D là muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thị Ngọc V và cháu Trần Phương Th, còn cháu Trần Thị Quỳnh V để cho anh Trần Văn Đtrực tiếp nuôi dưỡng. Chị yêu cầu anh Trần Văn Điệp góp cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phương Th mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn chính đáng. Hiện nay cháu Trần Thị Quỳnh V đang sống cùng với anh Trần Văn Điện. Quá trình lấy lời khai cháu đều có nguyện vọng muốn được sống cùng với bố. Cho nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị D về việc giao cháu Trần Thị Ngọc V và cháu Trần Phương Th cho chị Thái Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Thị Quỳnh V cho anh Trần Văn Đtrực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Trần Văn Điệp cấp dưỡng nuôi cháu Trần Phương Th mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp với pháp luật.

Về phân chia tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Thái Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tc, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thái Thị D được ly hôn với anh Trần Văn Điện

Về trách nhiệm nuôi con: Giao các cháu Trần Thị Ngọc V, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2011 và Trần Phương Th, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2020 cho chị Thái Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Thị Quỳnh V, sinh ngày 28 tháng 10 năm 2013 cho anh Trần Văn Đtrực tiếp nuôi dưỡng.

Buộc anh Trần Văn Đgóp cấp dưỡng nuôi con Trần Phương Th mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời gian góp cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 6 năm 2023 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghÜa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét

Về án phí: Buộc anh Trần Văn Đphải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Buộc chị Thái Thị D phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009328 ngày 17 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tc, tỉnh NA. Chị Thái Thị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ