- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyên đơn: Nguyễn Ngọc N - Bị đơn: Lê Đức T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đức T, gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2023/DS-PT Ngày 19/12/2023 “V/v tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng;
Các Thẩm phán:
Ông Lương Đức Dương;
Ông K’Tiêng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2023/TL-DSPT ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 91/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2023. i a các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1971 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1973 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn: Ông Lê Đức T, sinh năm 1979 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Nông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mai Thị T1, sinh năm 1986 - Có mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Đắk Nông.
- Người kháng cáo: Ông Lê Đức T - Là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ông Nguyễn Ngọc N, Bà Hoàng Thị V trình bày:
Khoảng 7h30 ngày 10/8/2021, bà V bị ông T gây thương tích phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện L. Quá trình điều trị ông T không thăm hỏi hay trả viện phí.
Ngày 13/8/2021, ông N đang đi xe máy trên đường thì bị ông T chặn đường đánh làm ông N phải nhập viện, kết quả bị gãy xương sườn số 7, đa chấn thương. Hai ông bà đã làm đơn trình công an xã nhưng ông T không bồi thường.
Nay hai ông bà khởi kiện yêu cầu ông T bồi thường tổng số tiền là 70.907.000 đồng gồm: tiền viện phí, tiền thuốc 7.744.000 đồng, tiền thuê xe đi bệnh viện 2.500.000 đồng, tiền ăn điều trị là 3.320.000 đồng, tiền công nghỉ việc 3 tháng 27.000.000 đồng, tiền công người chăm sóc 15.000.000 đồng, tiền sửa xe máy 850.000 đồng, tiền bồi thương tổn thất tinh thần 10 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 14.900.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Đức T trình bày:
i a năm 2021, ông N kéo con ông T sinh ngày 09/9/2008 và nói con ông là đồ ăn cắp. Sáng hôm sau, ông N cầm cây Sim ném về phía nhà ông T và chửi bới, nói rằng con ông T là kẻ trộm cắp. Sau đó ông T sang nhà hàng xóm thì vợ ông N lại tiếp tục chửi bới, ông T bực tức liền ném cây sim về phía bà V.
Hôm sau, khi đang đi trên đường thì ông N lái xe máy tông vào ông T, kết quả là ông T bị xây sát nhẹ, ông N bị té xuống đường. Sau đó hai bên vật nhau và được mọi người ra ngăn cản.
Ông T cho rằng ông N tự té ngã gãy Sườn nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mai Thị T1 (vợ ông T)
trình bày:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 10/8/2021, ông N đến nhà ông T chửi bới nói ăn trộm cây cảnh, ông T nói đây là cây mọc tự nhiên ở trên đất của bãi bắn chứ không phải cây cảnh hai bên có chửi cãi nhau qua lại, ông T cầm cây sim rừng ném vào tay vợ ông N là bà V, tay bà V có bị sưng tím một chút. Sau đó có xảy ra đánh nhau nhưng không gây thương tích gì và được mọi người can ngăn nên hai bên về nhà bà V không phải nhập viện.
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/8/2021, ông N có chở vợ đi đâu không biết nhưng có đi qua nhà ông D (hàng xóm), khi đó ông T cũng qua nhà ông D chơi thì ông N tông vào ông T, hai bên có chửi bới cãi nhau và đánh nhau, ông D khoá tay ông T, anh T ôm ông N lại và sau đó Công an xã X mời hai bên đến Công an xã làm việc. Khi đó hai bên không có bị thương tích gì. Buổi tối cùng ngày 13/8/2021, ông T bị người nhà ông N đánh ông T phải nhập viện điều trị.
Nay ông Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V khởi kiện yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại bản án số: 35/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp đã căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật dân sự; Điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V: Buộc ông Lê Đức T phải bồi thường cho ông N, bà V số tiền 18.409.000 đồng (mười tám triệu bốn trăm lẻ chín nghìn đồng)
Bác phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V về yêu cầu ông Lê Đức T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 48.460.000 đồng (bốn mưới tám triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/09/2023, bị đơn ông Lê Đức T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn gi nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn gi nguyên yêu cầu kháng cáo. Các bên đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tại Toà án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đức T, gi nguyên bản án sơ thẩm số: 35/2023/DS-ST ngày 31/782023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Đức T làm trong thời hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định.
. Xét nội dung giải quyết vụ án và yêu cầu kháng cáo:
. Nội dung kháng cáo, ông T kháng cáo yêu cầu bảo vệ danh dự nhân phẩm của con trai ông và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, về nội dung kháng cáo yêu cầu bảo vệ danh dự nhân phẩm bản án sơ thẩm không giải quyết và không ai khởi kiện nội dung này nên cấp phúc thẩm chỉ xem xét nội dung kháng cáo bác đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V với số tiền là 18.409.000 đồng, trong tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường là 70.907.000 đồng. Như vậy số tiền không được chấp nhận là 52.498.000 đồng nhưng cấp sơ thẩm tuyên bác yêu cầu đối với số tiền là 48.460.000 đồng là không chính xác, có sự nhầm lẫn. Tuy nhiên, do nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện bồi thường thiệt hại sức khỏe bị bác theo quy định của pháp luật nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại cho đúng, đồng thời nêu ra để rút kinh nghiệm.
. Tài liệu cứng cứ và lời khai của các đương sự đều thừa nhận vào ngày 11/8/2021 và ngày 13/8/2021 gi a ông N, bà V và ông T có xảy ra mâu thuẫn và xô xát với nhau, sau khi xảy ra xô xát thì hai bên được công an xã X triệu tập về trụ sở để làm việc. Hậu quả là bà V bị thương nhẹ, ông N phải cấp cứu tại trung tâm ý tế huyện L. Theo hồ sơ bênh án ông N đã cung cấp thể hiện ông bị gãy xương sườn số 7, đa vết thương do bị đánh và phải nhập viện điểu trị trong thời gian 10 ngày. Ngoài ra ông N cũng cung câp các hóa đơn chi phí điều trị, vận chuyển, sửa xe trong suốt quá trình điều trị. Tại phiên tòa ông T cho rằng ông không gây ra thương tích cho ông N nhưng thừa nhận có việc ném cây sim vào người bà V, có xảy ra xô xát vật ông N ngã ra đường và sự việc đã được Công an xã X lập biên bản, ông N cũng nhập viện ngay sau khi sự việc xảy ra, các tình tiết nêu trên phù hợp với nội dung mô tả trong hồ sơ bệnh án.
. Như vậy, rõ ràng có mối quan hệ nhân quả gi a thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm, hành vi của ông T vật ngã ông N xuống đường là nguyên nhân gây ra thiệt hại sức khỏe cho ông N (gãy xương Sườn số 7) nên việc ông T cho rằng thương tích ông N không phải do ông gây ra là không có căn cứ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi của nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho nguyên đơn 18.409.000 đồng, gồm: tiền chi phí điều trị, vận chuyển và sửa xe là 11.552.000 đồng; tiền chi phí điều trị, vận chuyển và sửa xe cho bà Hoàng Thị V: 757.000 đồng; tiền công người chăm sóc ông Nguyễn Ngọc N trong 10 ngày nằm viện: 10 ngày x 250.000 đồng/ngày = 2.500.000 đồng; khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần mà người bị thiệt hại gánh chịu bằng 02 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định là 1.800.000 đồng x 2 = 3.600.000 đồng, trong tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường là 70.907.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho việc kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp là phù hợp.
. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
. Về án phí:
. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Lê Đức T phải chịu án phí trên số tiền phải bồi thường là 18.409.000 đồng x 5% = 920.450 đồng (làm tròn thành 920.000 đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Lê Đức T không được chấp nhận, nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đức T, gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2023/DS-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
Áp dụng Điều 144, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng đân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ Luật dân sự; Nghị quyết 02/2022 ngày 06/09/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V.
1.1. Buộc ông Lê Đức T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V tổng số tiền 18.409.000 đồng (mười tám triệu bốn trăm lẻ chín nghìn đồng) gồm các khoản: Tiền chi phí điều trị, vận chuyển và sửa xe là 11.552.000 đồng; tiền chi phí điều trị, vận chuyển và sửa xe cho bà Hoàng Thị V là 757.000 đồng; tiền công người chăm sóc ông Nguyễn Ngọc N trong 10 ngày nằm viện là 2.500.000 đồng; khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 3.600.000 đồng.
Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự tính lãi suất chậm trả tiền theo quy định của pháp luật.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Ngọc N và bà Hoàng Thị V đối với các khoản tiền bồi thường là 52.498.000 đồng.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Đức T phải chịu 920.000 đồng (chín trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Đức T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phi dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0005514 ngày 26/09/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đăk Nông.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - TAND huyện Đắk R’Lấp; - Chi cục THADS huyện L; - Các đương sự; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lương Đức Dương K’Tiêng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Anh Ửng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Ửng |