- Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG TRÍ C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Trí C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2022/HS-ST Ngày: 29/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
[
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Long Tỵ
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Bùi Thanh Hải;
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2022; tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Trí C, sinh năm 1984, tại tỉnh Bình Dương. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Ấp A1, xã B, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Mua ve chai; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Trần Thị C2, sinh năm 1956; vợ Trần Thị Bích L, sinh năm 1985; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: 03 tiền án; cụ thể: Bản án số: 153/2004/HSST ngày 09/6/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Hoàng Trí C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản” ngày 25/10/2012 bị cáo chấp hành xong và được xóa án tích; Bản án số: 34/2011/HSST ngày 03/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Hoàng Trí C 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” ngày 05/5/2019 bị cáo chấp hành xong và được xóa án tích; Bản án số: 49/2017/HSST ngày 06/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt bị cáo Hoàng Trí C 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” ngày 12/9/2019 bị cáo chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích do chưa bồi thường trách nhiệm dân sự; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Bùi Thị Cẩm N, sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã H, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 02/6/2022, Hoàng Trí C điều khiển xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển số, số máy CT100E1042425, không có số khung của bị cáo và mang theo 01 khoan điện cầm tay loại sử dụng pin; 01 kìm bằng kim loại màu đen có tay cầm bọc nhựa màu vàng đen; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng đi từ nhà tại ấp A1, xã B, huyện D, tỉnh Bình Dương dự định đến khu vực thị xã F, tỉnh Bình Dương để hỏi giá mua phế liệu. Khi đến khu vực Chợ Long Hòa thuộc xã H, huyện D, tỉnh Bình Dương thì C phát hiện nhà của bà Bùi Thị Cẩm N khóa cửa ngoài nên C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, C dựng xe ở đoạn đường bê tông bên hông nhà, sau đó C dùng mỏ lết để cạy khoen cửa hông rồi đi vào tìm tài sản để trộm. Khi vào nhà, C phát hiện trong phòng ngủ có 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu hồng, số IMEI 359475083108374; 01 điện thoại di động OPPO F5, màu trắng-hồng, số IMEI 1: 867458038895811; 01 điện thoại OPPO A76 màu đen, số IMEI 1: 869571050667419 để ở trên giường và 22.000.000 đồng để trong tủ quần áo. Sau khi lấy được tài sản thì C đi về nhà mình cất 01 điện thoại di động OPPO F5. Sau đó C đi đến nhà bà Trần Thị Cậy tại ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Bình Dương cất 01 điện thoại di động Iphone 7Plus trong tủ tại phòng khách nhà bà Cậy (bà Cậy là mẹ của C). Riêng điện thoại di động OPPO A76 do còn mới nên C đem đến nhà của ông Nguyễn Văn C1 tại ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Bình Dương để cầm cố được 3.000.000 đồng (điện thoại đã được thu hồi).
Ngày 03/6/2022, bà Bùi Thị Cẩm N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trình báo về việc bị mất trộm tài sản. Qua điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà bà Trần Thị E và thu giữ 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu hồng, số IMEI 359475083108374 (điện thoại của bị cáo); 01 điện thoại SamSung màu trắng vàng, số IMEI 359498095299734 (là vật chứng trong vụ án khác). Đồng thời, khám xét khẩn cấp tại nhà của C. Qua khám xét phát hiện và thu giữ: 01 điện thoại di động OPPO F5, màu trắng-hồng, số IMEI 1: 867458038895811; 01 điện thoại di động Samsung màu trắng-vàng, số IMEI: 359929073729110; 01 điện thoại di động màu xanh, có gắn sim Viettel có dãy số 8984048000337251603 (điện thoại của C); 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, phần đầu xe màu nâu, phần thân xe màu đỏ, trên lốc máy có chữ Honda, số máy CT100E1042425, không có số khung, không có biển số, phía sau yên có gắn dụng cụ kéo mooc lôi (xe đã qua sử dụng, hư hỏng nhiều bộ phận); 01 mũ bảo hiểm loại trùm nữa đầu màu xanh; 01 khoan điện cầm tay loại sử dụng pin (có kèm theo pin) màu xanh loại Makita, có mũi khoan; 01 kìm bằng kim loại màu đen có tay cầm bọc nhựa màu vàng đen; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng phần tay bọc nhựa màu đỏ, hiệu Luxtop; 01 quần thun dài màu xanh, hai bên ống quần có sọc trắng; 01 áo sơ mi tay dài màu xám.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐG ngày 10/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A76, màu đen có giá là 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5, màu hồng có giá là 1.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, màu hồng có giá là 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.000.000 đồng.
Đối với việc bị cáo C cất giấu chiếc điện thoại Iphone 7Plus tại nhà bà Trần Thị E nhưng bà E không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Văn C1 cầm cố 01 điện thoại OPPO A76 màu đen, số IMEI 1: 869571050667419 của Hoàng Trí C với giá 3.000.000 đồng. Quá trình điều tra nhận thấy, ông C1 không biết điện thoại này do C trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu hồng, số IMEI 359475083108374; 01 điện thoại di động OPPO F5, màu trắng-hồng, số IMEI 1: 867458038895811; 01 điện thoại OPPO A76 màu đen, số IMEI 1: 869571050667419. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Bùi Thị Cẩm N. Ngày 17/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả cho bà N theo Quyết định xử lý vật chứng số 21/QĐ ngày 15/6/2022 là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với 01 điện thoại SamSung màu trắng vàng, số IMEI 359498095299734; 01 điện thoại di động màu xanh, có gắn sim Viettel có dãy số 8984048000337251603; 01 mũ bảo hiểm loại trùm nữa đầu màu xanh; 01 khoan điện cầm tay loại sử dụng pin (có kèm theo pin) màu xanh loại Makita, có mũi khoan; 01 kìm bằng kim loại màu đen có tay cầm bọc nhựa màu vàng đen; 01 quần thun dài màu xanh, hai bên ống quần có sọc trắng; 01 áo sơ mi tay dài màu xám. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo C. Do đó, đề nghị trả lại cho bị cáo C.
Đối với 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, phần đầu xe màu nâu, phần thân xe màu đỏ, trên lốc máy có chữ Honda, số máy CT100E1042425, không có số khung, không có biển số, phía sau yên có gắn dụng cụ kéo mooc lôi; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng phần tay bọc nhựa màu đỏ, hiệu Luxtop. Quá trình điều tra xác định, đây là công cụ mà bị cáo C sử dụng để phạm tội. Do đó đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu trắng-vàng, số IMEI: 359929073729110. Quá trình điều tra xác định, đây là tang vật trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 01/6/2022 tại ấp 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bình Phước. Ngày 22/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Bình Phước thụ lý, giải quyết theo quy định.
Đối với số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo C đã tiêu xài hết không thu hồi được (trong đó tiền trộm cắp là 22.000.000 đồng, tiền cầm cố điện thoại là 3.000.000 đồng).
* Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị hại Bùi Thị Cẩm N yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền 22.000.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo C bồi thường số tiền nêu trên cho bị hại bà N.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C1 yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo C bồi thường số tiền nêu trên cho ông C1.
Tại bản Cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Hoàng Trí C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Trí C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Hoàng Trí C từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
* Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu hồng, số IMEI 359475083108374; 01 điện thoại di động OPPO F5, màu trắng-hồng, số IMEI 1: 867458038895811; 01 điện thoại OPPO A76 màu đen, số IMEI 1: 869571050667419. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Bùi Thị Cẩm N. Ngày 17/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả cho bà N theo Quyết định xử lý vật chứng số 21/QĐ ngày 15/6/2022 là phù hợp quy định của pháp luật nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 điện thoại SamSung màu trắng vàng, số IMEI 359498095299734; 01 điện thoại di động màu xanh, có gắn sim Viettel có dãy số 8984048000337251603; 01 mũ bảo hiểm loại trùm nữa đầu màu xanh; 01 khoan điện cầm tay loại sử dụng pin (có kèm theo pin) màu xanh loại Makita, có mũi khoan; 01 kìm bằng kim loại màu đen có tay cầm bọc nhựa màu vàng đen; ; 01 quần thun dài màu xanh, hai bên ống quần có sọc trắng; 01 áo sơ mi tay dài màu xám. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo C. Do đó, đề nghị trả lại cho bị cáo C là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, phần đầu xe màu nâu, phần thân xe màu đỏ, trên lốc máy có chữ Honda, số máy CT100E1042425, không có số khung, không có biển số, phía sau yên có gắn dụng cụ kéo mooc lôi; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng phần tay bọc nhựa màu đỏ, hiệu Luxtop. Quá trình điều tra xác định, đây là công cụ mà bị cáo sử dụng để phạm tội. Do đó, đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu trắng-vàng, số IMEI: 359929073729110. Quá trình điều tra xác định, đây là tang vật trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 01/6/2022 tại ấp 3, thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Ngày 22/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước thụ lý, giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Bùi Thị Cẩm N yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền 22.000.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo C bồi thường số tiền nêu trên cho bị hại bà N.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C1 yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo C bồi thường số tiền nêu trên cho ông C1.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Trí C thành thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo làm công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Trí C khai nhận khoảng 08 giờ 00 phút ngày 02/6/2022, bị cáo C có hành vi lén lút dùng mỏ lết cạy khoen cửa nhà của bà Bùi Thị Cẩm N, thuộc ấp Long Điền, xã Long Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương lấy trộm của bà N tài sản gồm: 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 7 Plus, 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5, 01 điện thoại di động hiệu OPPO A76 và số tiền 22.000.000 đồng. Tài sản mà bị cáo C chiếm đoạt được Hội đồng định giá tài sản huyện Dầu Tiếng xác định tại kết luận định giá tài sản số 23/KL-ĐGTS ngày 10/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Dầu Tiếng đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A76, màu đen có giá trị 3.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO F5, màu hồng có giá trị 1.000.000 đồng, 01 điện thoại đi động hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng có giá trị 2.000.000 đồng và 22.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản mà bà N bị mất là 28.000.000 đồng, bị cáo C cũng thống nhất với kết luận định giá nêu trên nên bị cáo C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời khai của bị cáo Hoàng Trí C tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bản Cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Hoàng Trí C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo C nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện bản chất xem thường pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo C đã có 03 tiền án về “tội trộm cắp tài sản” và “cướp tài sản”. Trong đó có 02 tiền án đã được xóa án tích, 01 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích do chưa bồi thường trách nhiệm dân sự nhưng bị cáo C lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản của người khác là tiền và điện thoại di động để có tiền tiêu xài nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của bị cáo. Bị cáo C đã trộm được tiền và điện thoại di động có giá trị tổng cộng 28.000.000 đồng (trong đó: Tiền mặt là 22.000.000 đồng; 6.000.000 đồng là giá trị của 03 điện thoại di động) mà bị cáo C đã lấy trộm của bị hại bà N nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo C không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Đối với điện thoại Iphone 7Plus mà bị cáo C cất giấu tại nhà bà Trần Thị E (bà E là mẹ ruột của bị cáo C) nhưng bà E không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý bà Cậy là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Văn C1 cầm cố 01 điện thoại OPPO A76 màu đen, số IMEI 1: 869571050667419 mà bị cáo C phạm tội mà có số tiền 3.000.000 đồng. Quá trình điều tra nhận thấy, ông C1 không biết điện thoại này do bị cáo C trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý ông C1 là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu hồng, số IMEI 359475083108374; 01 điện thoại di động OPPO F5, màu trắng-hồng, số IMEI 1: 867458038895811; 01 điện thoại OPPO A76 màu đen, số IMEI 1: 869571050667419. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị hại bà Bùi Thị Cẩm N. Ngày 17/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả cho bà N theo Quyết định xử lý vật chứng số 21/QĐ ngày 15/6/2022 là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với 01 điện thoại SamSung màu trắng vàng, số IMEI 359498095299734; 01 điện thoại di động màu xanh, có gắn sim Viettel có dãy số 8984048000337251603; 01 mũ bảo hiểm loại trùm nữa đầu màu xanh; 01 khoan điện cầm tay loại sử dụng pin (có kèm theo pin) màu xanh loại Makita, có mũi khoan; 01 kìm bằng kim loại màu đen có tay cầm bọc nhựa màu vàng đen; ; 01 quần thun dài màu xanh, hai bên ống quần có sọc trắng; 01 áo sơ mi tay dài màu xám. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo C. Do đó, trả lại cho bị cáo C là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, phần đầu xe màu nâu, phần thân xe màu đỏ, trên lốc máy có chữ Honda, số máy CT100E1042425, không có số khung, không có biển số, phía sau yên có gắn dụng cụ kéo mooc lôi; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng phần tay bọc nhựa màu đỏ, hiệu Luxtop. Quá trình điều tra xác định, đây là công cụ mà bị cáo C sử dụng để phạm tội. Do đó, tịch thu tiêu hủy là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu trắng-vàng, số IMEI: 359929073729110. Quá trình điều tra xác định, đây là tang vật trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 01/6/2022 tại ấp 3, thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Ngày 22/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo C đã tiêu xài hết không thu hồi được (trong đó tiền trộm cắp là 22.000.000 đồng, tiền cầm cố điện thoại là 3.000.000 đồng).
Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm về quyền sở hữu tài sản của người khác trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử lý bị cáo C mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo C đã thực hiện nhằm ổn định trật tự công cộng, cũng như phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Hội đồng xét xử xem xét quyết định áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo C nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo C trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Trí C không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và tại phiên tòa bị cáo C có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật tạo điều kiện để bị cáo C cải tạo, giáo dục thành người công dân tốt.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật đề nghị áp dụng đối với bị cáo Hoàng Trí C là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu hồng, số IMEI 359475083108374; 01 điện thoại di động OPPO F5, màu trắng-hồng, số IMEI 1: 867458038895811; 01 điện thoại OPPO A76 màu đen, số IMEI 1: 869571050667419. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Bùi Thị Cẩm N. Ngày 17/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả cho bà N theo Quyết định xử lý vật chứng số 21/QĐ ngày 15/6/2022 là phù hợp quy định pháp luật nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 điện thoại SamSung màu trắng vàng, số IMEI 359498095299734; 01 điện thoại di động màu xanh, có gắn sim Viettel có dãy số 8984048000337251603; 01 mũ bảo hiểm loại trùm nữa đầu màu xanh; 01 khoan điện cầm tay loại sử dụng pin (có kèm theo pin) màu xanh loại Makita, có mũi khoan; 01 kìm bằng kim loại màu đen có tay cầm bọc nhựa màu vàng đen; 01 quần thun dài màu xanh, hai bên ống quần có sọc trắng; 01 áo sơ mi tay dài màu xám. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo C. Do đó, trả lại cho bị cáo C là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô không rõ nhãn hiệu, phần đầu xe màu nâu, phần thân xe màu đỏ, trên lốc máy có chữ Honda, số máy CT100E1042425, không có số khung, không có biển số, phía sau yên có gắn dụng cụ kéo mooc lôi; 01 mỏ lết bằng kim loại màu trắng phần tay bọc nhựa màu đỏ, hiệu Luxtop. Quá trình điều tra xác định, đây là công cụ mà bị cáo C sử dụng để phạm tội. Do đó, tịch thu tiêu hủy là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu trắng-vàng, số IMEI: 359929073729110. Quá trình điều tra xác định, đây là tang vật trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 01/6/2022 tại ấp 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Bình Phước. Ngày 22/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo C đã tiêu xài hết (trong đó tiền trộm cắp là 22.000.000 đồng, tiền cầm cố điện thoại là 3.000.000 đồng) không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Trí C có trách nhiệm bồi thường số tiền 22.000.000 đồng cho bị hại bà Bùi Thị Cẩm N; buộc bị cáo Hoàng Trí C có trách nhiệm bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn C1 là phù hợp quy định của pháp luật.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Trí C phải nộp theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Trí C phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 38; Điều 48; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 1 khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 584; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Trí C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Trí C 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo Hoàng Trí C bồi thường cho bà Bùi Thị Cẩm N số tiền 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).
- Buộc bị cáo Hoàng Trí C bồi thường cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Bùi Thị Cẩm N, ông Nguyễn Văn C1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Hoàng Trí C không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bị cáo Hoàng Trí C còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Xe mô tô không rõ nhãn hiệu, phần đầu xe màu nâu, phần thân xe màu đỏ, trên lốc máy có chữ Honda; số loại: không rõ; loại xe: không rõ; dung tích xi lanh: không rõ; số máy: CT100E1042425, không có số khung, không có biển số, phía sau yên có gắn dụng cụ kéo mooc lôi (tình trạng vật chứng tại thời điểm giao nhận: xe đã cũ, không gương chiếu hậu, không có võ nhựa bọc thân xe, không đèn chiếu sáng); 01 (một) Mỏ lết bằng kim loại, màu trắng, phần tay cầm có bọc nhựa màu đỏ, hiệu LUXTOP.
+ Trả cho bị cáo Hoàng Trí C:
- 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu trắng vàng, số IMEI 359498095299734; 01(một) Điện thoại di động màu xanh; 01 (một) sim điện thoại Viettel trên sim có dãy số 8984048000337251603; 01 (một) Mũ bảo hiểm loại trùm nữa đầu màu xanh; 01 (một) Khoan điện cầm tay loại sử dụng pin (có kèm theo pin) màu xanh hiệu Makita, có mũi khoan; 01 (một) Kìm cắt sắt bằng kim loại, có tay cầm bọc nhựa màu vàng đen; 01 (một) Quần thun dài màu xanh, hai bên ống quần có sọc màu trắng; 01 (một) Áo sơ mi tay dài màu xám
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/10/2022).
4. Về án phí:
4.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Trí C phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
4.2 Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bị cáo Hoàng Trí C phải nộp số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 29/11/2022).
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng; - Chi cục THADS H. Dầu Tiếng; - PV 06 - Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Long Tỵ |