- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 65 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2022/HS-PT Ngày 27 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Huân.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và bà Lê Thị Bích Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Đỗ Minh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Minh H, sinh ngày: 09/6/2003; sinh trú quán: Tổ dân phố T 3, thị trấn YL, huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/12; Đảng, Đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Mạnh Th và bà Nguyễn Thị Ng; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại tại địa phương “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Minh H: Ông Lê Văn D - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”
Địa chỉ: Đường Phạm Văn Đ, phường TS, thành phố VY, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo khác, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/08/2021, Nguyễn Tiến Đ1 và Đỗ Minh H đến nhà Kim Văn N chơi. Tại đây, Đ1 nói với N, H: “Anh em mình không có tiền thì đi xem có gì không” tức rủ cả nhóm đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. N, H đồng ý.
Trong khoảng thời gian từ ngày 17/8/2021 đến ngày 21/8/2021, Nguyễn Tiến Đ1, Đỗ Minh H, Kim Văn N cùng nhau thực hiện 09 vụ trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:
Ngày 17/8/2021, Đ1, N và H điều khiển xe mô tô BKS: 88C1- 092.63 đến khu vực bãi rác thôn ĐN, xã BĐ, phát hiện 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, loại xe Lifan, màu mận chín của ông Kim Văn KM dựng gần đó, xe đang cắm chìa khóa điện. Quan sát không có người, H đến dắt xe, nổ máy đi về xã TL và bán chiếc xe trộm cắp được cho bà Trần Thị TA ở thôn GB 2, xã TL với giá 1.000.000đồng. Cả ba chia nhau: H được 400.000đồng, N được 400.000đồng, Đ1 được 200.000đồng.
Trưa ngày 18/8/2021, Đ1, N và H đi xe mô tô BKS 88C1 - 092.63 mang theo 01 mỏ lết, 01 tua vít, 01 kéo, 01 kìm đến khu vực gần bãi rác thôn YQ, xã BĐ trộm cắp 02 cánh cổng (đều kích thước 1,3m x 1,9m) tổng trọng lượng 17kg ở lối đi vào nghĩa trang của gia đình ông Nguyễn Văn Vĩnh, mang bán tại cửa hàng thu mua phế liệu của gia đình ông Nguyễn Văn Ngọc ở thôn YQ, xã BĐ, huyện YL được 170.000đồng.
Tối ngày 18/8/2021, Đ1, N, H đến cánh đồng MH, thôn ĐN, xã BĐ trộm cắp 01 cổng sắt (kích thước 1,45m x 1,52m) trọng lượng 18,8 kg ở lối đi vào nghĩa trang của gia đình bà Trần Thị T1, bán cho cửa hàng thu mua phế liệu của bà Đại Thị H tại Tổ dân phố Trung 3, thị trấn YL được 180.000đồng. Đ1, N, H tiếp tục trộm cắp 01 cánh cổng sắt (kích thước 1,2 x 1,34m) trọng lượng 14kg ở lối đi vào nghĩa trang gia đình bà Nguyễn Thị H2 ở thôn ĐN, xã BĐ và 01 cánh cửa sắt nhà vệ sinh (kích thước 2,0m x 0,72m) trọng lượng 12kg của Bưu điện xã BĐ đem bán 02 cánh cửa, cổng sắt cho cửa hàng thu mua phế liệu của bà Phạm Thị TA thôn CT, xã BĐ được 210.000đồng.
Trưa ngày 19/8/2021, Đ1, H đến trang trại nhà ông Kim Hồng Ch thôn ĐN, xã BĐ trộm cắp 09 phên sắt (kích thước 2,2m x 0,5m) bán cho cửa hàng thu mua phế liệu bà Đào Thị B được 900.000đồng.
Trưa ngày 20/8/2021, Đ1, H tiếp tục đến trang trại nhà ông Ch trộm cắp 08 phên sắt kích thước như trên, bán cho bà Đào Thị B được 900.000đồng. Tối cùng ngày Đ1, H tiếp tục trộm cắp 14 phên sắt, 01 cột sắt của trang trại nhà ông Ch, bán cho bà Phạm Thị TA được 1.465.000đồng.
Trưa ngày 21/8/2021, Đ1, H đến trang trại nhà ông Ch trộm cắp tiếp 05 phên sắt bán cho bà Phạm Thị TA được 662.000đồng. Trên đường đi Đ1, H nhặt được 01 xà beng bán cho bà TA được 43.000đồng.
Từ ngày 19/8/2021 đến ngày 21/8/2021 cả Đ1, N, H cùng bàn bạc, thống nhất trộm cắp các phên sắt nhà ông Kim Hồng Ch, do Kim Văn N có quan hệ họ hàng với ông Ch nên cả nhóm thống nhất Đ1, H trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp các phên sắt còn N chờ Đ1, H trộm cắp được rồi cùng mang đi bán. Toàn bộ số tiền do bán tài sản trộm cắp từ ngày 18/8/2021 đến ngày 21/8/2021 Đ1, H đưa cho N để chi tiêu chung cả nhóm.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, các ông (bà) Kim Văn KM, Nguyễn Văn V1, Trần Thị T1, Nguyễn Thị H2, Đào Thị HA (cán bộ Bưu điện xã BĐ), Kim Hồng Ch đã trình báo cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra Công an huyện YL tiến hành khám nghiệm hiện trường, điều tra theo quy định của pháp luật, thu giữ vật chứng gồm: 01 xe mô tô BKS 88C1 - 092.63; 01 xe mô tô BKS 88F1 - 441.58; các bộ phận đã tháo dời của xe mô tô nhãn hiệu Lifan; 01 mỏ lết; 01 kéo; 01 kìm; 01 tua vít; 01 cánh cổng sắt kích thước (1,52 x 1,45)m; 01 xà beng; số tiền 400.000đồng.
Tại Kết luận số 39/KL-HĐĐGTS ngày 08/10/2021, Hội đồng định giá tài sản huyện YL, kết luận: 01 xe mô tô Lifan trị giá 1.000.000đồng; 01 cánh cổng sắt kích thước 1,45m x 1,52m, khối lượng 18,8kg trị giá 188.000đồng; 02 cánh cổng sắt kích thước 1,3m x 1,9m, khối lượng 17kg trị giá 170.000đồng; 01 cánh cửa sắt kích thước 02m x 0,72m, khối lượng 12kg trị giá 120.000đồng; 01 cánh cổng sắt kích thước 1,2m x 1,34m, khối lượng 14kg trị giá 140.000đồng; 36 tấm phên sắt kích thước 2,2m x 0,5m, tổng khối lượng 468kg trị giá 4.680.000đồng; 01 cột sắt dài 3,5m, phi 110, khối lượng 13,5kg trị giá 135.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.433.000đồng (Sáu triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Tại bản Kết luận giám định số 2388 ngày 18/9/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V1 Phúc kết luận giám định kỹ thuật số điện tử 01 chiếc USB bên trong chứa video thu được từ camera an ninh nhà ông Kim Hồng Ch thể hiện: Chụp được 18 ảnh diễn biến các đối tượng xuất hiện trong 01 tệp tin video gửi giám định. Ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 bản ảnh giám định. Bản ảnh giám định thể hiện hình ảnh Đ1, H điều khiển xe mô tô, thực hiện hành vi trộm cắp các phên sắt của gia đình ông Kim Hồng Ch.
Hành vi trộm cắp của Nguyễn Tiến Đ1, Đỗ Minh H, Kim Văn N thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian từ ngày 17/8/2021 đến ngày 21/8/2021. Trị giá tài sản trộm cắp được theo kết luận định giá là 6.433.000đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt: Đỗ Minh H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên bố tội danh, áp dụng hình phạt đối với bị cáo khác, quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11 tháng 7 năm 2022, bị cáo Đỗ Minh H có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YL xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Bị cáo Đỗ Minh H giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Đỗ Minh H đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YL theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; xử phạt bị cáo Đỗ Minh H 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Người bào chữa của bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến gia cảnh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để xử phạt bị cáo 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Bị cáo Đỗ Minh H nhất trí với bản luận cứ bào chữa của người bào chữa, không bào chữa bổ sung gì khác và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh H làm trong thời hạn luật định được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo Đỗ Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
Từ ngày 17/8/2021 đến ngày 21/08/2021, Nguyễn Tiến Đ1, Đỗ Minh H, Kim Văn N bàn bạc, thực hiện liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian 09 vụ trộm cắp tài sản, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Lifan không BKS của ông Kim Văn KM, 02 cánh cổng sắt của ông Nguyễn Văn V1, 01 cánh cổng sắt của bà Trần Thị TU, 01 cánh cổng sắt của bà Nguyễn Thị H2, 01 cửa sắt của Bưu điện xã BĐ, 36 phên sắt và 01 cột sắt của ông Kim Hồng Ch đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 6.433.000đồng (Sáu triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương và xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh H xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi phạm tội, bị cáo Đỗ Minh H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi xem xét khách quan, toàn diện mọi tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có hoàn cảnh rất khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận, việc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù sẽ làm cho gia đình bị cáo ngày càng khó khăn hơn. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và Trợ giúp viên pháp lý, cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật với người phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e, khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Minh H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Đỗ Minh H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Minh H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn YL, huyện YL, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật TTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đỗ Minh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND huyện YL; - VKSND huyện YL; - Công an huyện YL; - THADS huyện YL; - Bị cáo; - Lưu HS; Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đinh Ngọc Huân |