vanban.org

Bản án 91/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị L

Bà Phạm Thị L được ly hôn ông Lê Văn H. Về con chung: Bà Phạm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Thùy L1, sinh ngày 20/10/2008 đến tuổi trưởng thành. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị L - Lê Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị L
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hướng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thế Vinh

Bà Lê Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Phan Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29/9/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 103/2021/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L - sinh năm 1987

Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn H - sinh năm 1975

Nơi cư trú: Thôn L, xã H, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị L trình bày: Bà và ông Lê Văn H kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 13/6/2007. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn vì quan điểm sống khác nhau. Bà và ông H đã không sống chung từ năm 2014 đến nay. Hiện tại bà và ông H không còn tình cảm với nhau nữa nên bà yêu cầu ly hôn với ông H.

Con chung: Bà và ông H có 01 con chung tên Lê Thùy L1, sinh ngày 20/10/2008. Sau khi ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Bà không yêu cầu giải quyết.

Bà Phạm Thị L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn ông Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên:

+ Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Phạm Thị L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Lê Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

+ Về nội dung vụ án: Bà Phạm Thị L và ông Lê Văn H kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 13/6/2007 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là hợp pháp. Bà L yêu cầu ly hôn vì quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông H vắng mặt, chứng tỏ ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật để tiến hành xét xử vắng mặt ông H. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Phạm Thị L. Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy đinh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy nguyên đơn bà Phạm Thị L có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Văn H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bà Phạm Thị L vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Lê Văn H kết hôn năm 2007, được Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 58 ngày 13/6/2007. Hội đồng xét xử công nhận đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà L yêu cầu ly hôn vì cho rằng quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống khác nhau. Bà và ông H đã không sống chung từ năm 2014 đến nay. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông H vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông H không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân với bà Lý.

Hội đồng xét xử nhận thấy giữa ông H và bà L đã không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn giữa H Hòa và bà L đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.

- Về con chung: Ông H và bà L có 01 con chung tên Lê Thùy L1, sinh ngày 20/10/2008, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu L1 có nguyện vọng ở với mẹ, do đó để đảm bảo quyền lợi cho cháu L1 cần chấp nhận yêu cầu của bà L, giao cháu L1 cho bà Lý trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về án phí: Bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự,

- Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH2014 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị L

- Bà Phạm Thị L được ly hôn ông Lê Văn H.

- Về con chung: Bà Phạm Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Thùy L1, sinh ngày 20/10/2008 đến tuổi trưởng thành. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Ông H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết, cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị L không yêu cầu Tòa giải quyết.

2. Về án phí: Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0004885 ngày 09/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã N. Bà L đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ