- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2021/HN-ST Ngày: 14 - 6 - 2021 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, Nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Ứng
2. Ông Phan Trọng Nhân
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Anh Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông không tham gia phiên tòa.
Ngày 14 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 03 năm 2021 về tranh chấp“Xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2021/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị N - Sinh năm: 1985 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang;
2. Bị đơn: Nguyễn Nhựt T - Sinh năm: 1982 (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị N trình bày:
Chị và anh T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới, đăng ký kết hôn ngày 30/12/2005 tại UBND xã T. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T thường xuyên cờ bạc, không biết lo kinh tế gia đình. Mâu thuẫn kéo dài đến năm 2020 thì trầm trọng nên đã sống ly thân. Nay tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Vững H, sinh ngày 28/01/2006; Nguyễn Huỳnh Huy O, sinh ngày 25/01/2013. Hiện cháu H đang sống với anh T, cháu O đang sống với chị, chị yêu cầu nuôi cháu O, đồng ý giao cháu H cho anh T nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: chị xác định chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị xác định không có.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Nhựt T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh T không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải và tham dự phiên tòa, cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là vụ án tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị N về việc xin ly hôn, nuôi con chung; Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: chị N và anh T có quan hệ hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/12/2005 nên quan hệ hôn nhân của chị N và anh T là hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Chị N trình bày cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T thường xuyên cờ bạc, không biết lo kinh tế gia đình. Mâu thuẫn kéo dài đến năm 2020 thì trầm trọng nên chị và anh T sống ly thân đến nay. Xét thấy, thực tế cuộc sống vợ chồng giữa chị N và anh T đã có mâu thuẫn, nên anh chị sống ly thân. Từ khi ly thân đến nay anh chị cũng không trao đổi hàn gắn tình cảm với nhau được. Anh T không tham dự phiên hòa giải, không tham dự phiên tòa để được hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó, cho thấy anh T cũng không tha thiết đến cuộc hôn nhân với chị N. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: chị N trình bày anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh Vững H, sinh ngày 28/01/2006; Nguyễn Huỳnh Huy O, sinh ngày 25/01/2013. Hiện cháu H đang sống với anh T, cháu O đang sống với chị, chị yêu cầu nuôi cháu O, đồng ý giao cháu H cho anh T nuôi. Xét thấy cháu O đang do chị N trực tiếp nuôi và có nguyện vọng được sống với mẹ, cháu H đang do anh T trực tiếp nuôi và có nguyện vọng được sống với cha; anh T chưa có ý kiến về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu O cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu H cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị N và anh T chưa có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: chị N trình bày chị chưa yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: chị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: cho chị Huỳnh Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Nhựt T.
2. Về nuôi con chung:
- Giao con chung Nguyễn Huỳnh Huy O, sinh ngày 25/01/2013 cho chị Huỳnh Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Giao con chung Nguyễn Huỳnh Vững H, sinh ngày 28/01/2006 cho anh Nguyễn Nhựt T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: chị N, anh T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Chị N, anh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Chị N, anh T và các thành viên trong gia đình chị N, anh T không được ngăn cản.
3. Về án phí: Chị N phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 49717 ngày 22/03/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông. Chị N đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị N, anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện TPĐ; - Chi cục THADS huyện TPĐ; - Các đương sự; - UBND xã T, huyện TPĐ; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |