- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2020/HS-ST Ngày: 25 -6- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê H Ngọc H1.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Chí
Bà Lê Thị Thanh Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
- Nguyễn Đức H, sinh năm 1979, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;Chổ ở: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Tăng Thúy H; Có vợ Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1982, có 01 con sinh năm 2000 (đã ly hôn); tiền sự: không; tiền án: Ngày 10/10/2005 Tòa án phúc thẩm tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (bản án số 1083/2006/HSPT);Nhân thân: - Ngày 29/12/2011 cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cai nghiện Bố Lá - Ngày 27/9/2016 Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 01 năm 6 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (bản án số 195/2016/HSST). Tạm giam: 22/01/2020; (Có mặt).
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1962; Trú tại: Phường 8, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh;(Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: Phường 8, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 22/01/2020 bà Nguyễ n Thị Ngọ c M điề u khiể n xe gắ n máy biển số : 59V2 – 369.96 về và dự ng xe trướ c nhà số 23/20/9 Đường số 21 phườ ng 8, quậ n Gò Vấ p. Bà M vẫn cắm chì a khó a ở xe và đi đến mở khóa cử a để vào nhà . Lúc này Nguyễn Đức H đi bộ đế n phát hiện nên lén lút đến ngồ i lên xe gắn máy củ a chị M và khởi động má y chạ y xe đi thì bị chị M phát hiện chạy theo nắm được đuôi xe giữ lạ i đồng thời truy hô “cướp , cướp ...”. H bị mất thăng bằng nên chạy xe loạng choạng thêm khoảng 05 mét thì bị ngã xe nên H đứng dậy chạy bộ. Lúc này có anh Đoà n Công Tiế n và anh Đặng Anh Luyế n cù ng người dân đi đường đã hỗ trợ bà M đuổi theo H bắt giữ được H, giao H cùng xe gắn máy biển số 59V2 – 369.96 cho Công an phường 8 quận Gò Vấp lập biên bản phạm tội quả tang Nguyễn Đức H.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Gò Vấp Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân như đã nêu trên.
Vật chứng gồm:
- 01 xe gắn máy hiệu Hoda Airblade màu cam, đen, biển số: 59V2 – 369.96, số khung: RLHJF6307FZ003614, số máy: JF63E1003634. Tại bản kết luận định giá tài sản số 22/KL, ngày 4/2/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp thì xe này có giá trị là 24.000.000 đồ ng. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh thì xe này do Trần Thanh H1 (con ruột chị M) đứng tên chủ sở hữu, hiện nay Trần Thanh H1 định cư tại Mỹ nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Cơ quan điều tra đã trả xe gắn máy biển số 59V2 – 369.96 cho người quản lý hợp pháp là chị Nguyễn Thị Ngọc M, chị M nhận lại xe và không thắc mắc gì thêm.
- 01 áo thun màu đỏ, ở lưng áo in số 88 và chữ “ Nhun nhun”.
Riêng đối với 01USB ghi nhận hình ảnh Nguyễn Đức H trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 93/CTr-VKS, ngày 19/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Đức H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) áo thun màu đỏ , ở lưng áo in số 88 và chữ “ Nhun nhun”.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyễn Đức H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Đức H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không pH1 thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo đã từng bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản và mua bán trái phép chất ma túy (trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án) nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật và lần phạm tội này là tái phạm là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần thiết pH1 xử lý nghiêm khắc nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về hình phạt bổ sung, xét tính chất vụ án và bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc M vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bà đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc xe máy hiệu Hoda Airblade màu cam, đen, biển số: 59V2 – 369.96 và không có thắc mắc hay khiếu nại gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Hoda Airblade màu cam, đen, biển số: 59V2 – 369.96 qua xác minh do Trần Thanh H1 (con ruột chị M) đứng tên chủ sở hữu, hiện nay Trần Thanh H1 định cư tại Mỹ nên Cơ quan điều tra không làm việc được. Cơ quan điều tra đã trả xe gắn máy biển số 59V2 – 369.96 cho người quản lý hợp pháp là chị Nguyễn Thị Ngọc M, Hội đồng xét thấy việc trả lại tài sản đó là phù hợp với quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.
- Đối với 01 áo thun màu đỏ , ở lưng áo in số 88 và chữ “ Nhun nhun” là bộ đồ bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một) năm 9 (chín) tháng tù Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/01/2020.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy 01 cái áo đã được niêm phong (có chữ ký xác nhận của Nguyễn Đức H và hình dấu Công an Phường 8 quận Gò Vấp).
(Theo phiếu nhập kho số 99/PNK, ngày 20/4/2019 của Công an quận Gò Vấp).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo pH1 chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ lien quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người pH1 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát Q. Gò Vấp; - Thi hành án Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Bị cáo; - Bị hại - Người CQLNVLQ - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê H Ngọc H1 |