- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn K phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2020/HSST Ngày 09-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Nghĩa .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạ m Ngọ c Thiệ p;
Ông Đặng Xuân Tư.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh SL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh SL tham gia phiên toà: Ông Lò Văn Thức – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Lò Văn K ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976 tại huyện TC, tỉnh SL; nơi cư trú : Bản B, xã TL, huyệ n TC, tỉnh SL; nghề nghiệp: Trồ ng trọ t; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giớ i tí nh: Nam; tôn giáo: Không; quố c tị ch: Việ t Nam; con ông Lò Văn H (đã chế t) và bà Bạc Thị H (sinh năm 1954); có vợ là Lèo Thị I (đã ly hôn ) và có 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ , tạm giam từ ngày 21/5/2020 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ, ngày 21/5/2020, Tổ công tác Công an huyện TC đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản B, xã TL, huyện TC phát hiện, bắ t quả tang Lò Văn K có hành vi cấ t giữ trái phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ gồm:
Mộ t gói nilon màu xanh bên trong có chứa chấ t bộ t cụ c mà u trắ ng (K khai là Heroine)- K cấ t giữ trong tú i quầ n phí a trướ c bên trá i đang mặ c trên ngườ i.
Hồi 15 giờ 45 phút, ngày 21/5/2020 tại phòng PC 09 Công an tỉnh SL, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện TC đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định, kết quả xác định số bộ t cụ c màu trắng có khối lượng 0,25 gam (không phẩy hai mươi lăm gam). Trích toàn bộ 0,25 gam chất bột trắng trên để giám định ký hiệu LK1 làm mẫu gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 809 ngày 26/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh SL kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu LK1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,25 gam. Tổ ng khố i lượ ng ma tú y thu giữ là 0,25 gam; loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định : Chấ t bộ t mà u trắ ng thuộ c mẫ u gử i giám định ký hiệ u LK1, không sử dụ ng đế n trong quá trình giám định, có khối lượng 0,17 gam”.
Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn K khai nhậ n : Khoảng 10 giờ, ngày 21/5/2020, K đi bộ mộ t mì nh từ nhà ở bản B, xã TL, huyệ n TC, tỉnh SL đến bản ST, xã TC, huyệ n TC tìm mua ma túy để sử dụng . Khi đế n bả n ST, xã TC, K gặ p và hỏ i mua ma tú y củ a mộ t ngườ i đà n ông dân tộ c Thá i (K không biế t tên, tuổ i, đị a chỉ cụ thể ) đang đứ ng ven đườ ng đượ c mộ t í t Her oine gói bằng nilon màu xanh vớ i giá 100.000 đồ ng. Sau khi mua đượ c ma tú y, K cấ t gói ma túy vào túi quần sooc phía trước bên trái đang mặ c rồ i đi bộ về nhà . Khi đến khu vực bản B, xã TL thì bị Tổ công tác Công an huyệ n TC phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Tại bản cáo trạng số: 89/CT-VKS ngày 04/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố Lò Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Lò Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 16 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 0,17 gam chấ t ma tú y, loại Heroine.
Miễ n á n phí hì nh sự sơ thẩ m cho bị cá o theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Lò Văn K thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát , đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh SL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Ngày 21/5/2020 Lò Văn K đã có hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam chấ t ma tú y, loại Heroine trong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản B, xã TL, huyện TC.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 21/5/2020; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại ngày 21/5/2020; Kết luận giám định số 809 ngày 26/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh SL.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam chất ma túy, loại chất Heroine trong người với mục đích để sử dụng của Lò Văn K đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộ c trườ ng hợ p nghiêm trọ ng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo , trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiề n á n, tiề n sự .
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy đị nh tạ i khoả n 5 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Lò Văn K khai mua của mộ t đà n ông dân tộ c Thái gặ p ở bản ST, xã TC, huyệ n TC vào ngày 21/5/2020. Quá trình điề u tra xá c đị nh K không biế t họ tên, tuổ i, đị a chỉ cụ thể củ a ngườ i đà n ông đã bán ma túy cho K. Do đó, Cơ quan điề u tra không có đủ căn cứ để điề u tra , xử lý.
Vật chứng vụ án: Đối với vật chứng là 0,17 gam chấ t ma tú y , loại Heroine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ , lưu hà nh; 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và vậ t không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Gia đì nh bị cá o thuộ c hộ cậ n nghè o theo quy đị nh tạ i điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễ n toà n bộ á n phí hì nh sự sơ thẩ m cho bị cá o Lò Văn K.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn K 18 (mườ i tá m ) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/5/2020).
Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy đị nh tạ i khoả n 1, khoản 3 Điề u 329 Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự .
Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy:
Mộ t phong bì thư niêm phong, dán kín, mặ t trướ c ghi: Vậ t chứ ng nhậ p kho vụ Lò Văn K – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắ t ngà y 21/5/2020. 01 mảnh nilon mà u xanh + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Mộ t phong bì bằ ng giấ y trắ ng niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉ nh SL, mặ t trướ c ghi : Vật chứng vụ : Lò Văn K – Tàng trữ trái phép chấ t ma tú y, xảy ra ngày 21/5/2020. Tại xã TL, huyệ n TC, tỉnh SL. Tại: Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉ nh SL. Gồm có: 01 phong bì niêm phong gử i giám đị nh và chấ t bột màu trắng thuộ c mẫ u gử i giám định ký hiệu LK1, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng: 0,17 gam.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễ n toàn bộ á n phí hì nh sự sơ thẩ m cho bị cá o Lò Văn K.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh SL; - VKSND (02 bản); - Sở Tư pháp tỉnh SL - CA huyện TC; - Chi cục THADS huyện TC; - Người tham gia tố tung; - Lưu án văn; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Nghĩa |