vanban.org

Bản án 91/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Lã Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Xử phạt bị cáo Lã Xuân H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 06 (Sáu) ngày (Từ ngày 11/3/2020 đến ngày 17/3/2020). [3]. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Lã Xuân H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lã Xuân Hòa - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Lã Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:91/2020/HS-ST
Ngày 26 tháng 6 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chuyển và ông Lê Văn Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Lã Xuân H, sinh năm: 1986, tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu 3, phường Thanh M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lã Xuân H1, sinh năm 1958 và bà Hoàng Thị X, sinh năm 1955; vợ: Đỗ Mặc T, sinh năm 1986 (đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2009;

- Tiền án: 01 tiền án

Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2019/HSST ngày 19/3/2019 Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xử phạt Lã Xuân H 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”; tịch thu sung quỹ Nhà nước 580.000 đồng; H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2019.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 275/2012/HSST ngày 29/10/2012 Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xử phạt Lã Xuân H 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/3/2020 đến ngày 17/3/2020 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại khu 3, phường Thanh M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Bị hại: Chị Đặng Thị Xuân Th, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Tổ 21, phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/3/2020, Lã Xuân H đi bộ đến phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, thấy cửa ra vào phía sau bên phải nhà chị Đặng Thị Xuân Th không đóng kín, H quan sát xung quanh không có ai nên nảy sinh ý định vào nhà chị Th để trộm cắp tài sản. H mở cửa đi vào trong nhà, đến phòng ngủ của chị Thu thấy có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6, màu vàng đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ ở đầu giường. H lấy chiếc điện thoại trên rồi theo đường cũ rời khỏi nhà chị Th đi về nhà ở khu 3, phường Thanh M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Th đã trình báo vụ việc đến Công an phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 11/3/2020, do điện thoại bị khóa không sử dụng được nên H đã nói với anh Vũ Đức M, sinh năm 1995, trú tại khu 6, phường Thanh M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (bạn của H) là H nhặt được điện thoại trên và nhờ M liên lạc, trả lại điện thoại Iphone này cho số thuê bao hiển thị trên màn hình “iphone bị mất. iphone này bị mất. Vui lòng gọi cho tôi. 0888926444. 0888926444”. M liên hệ hẹn trả lại điện thoại ở ngã tư giao nhau giữa đường HV và đường HB thuộc phường TS, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. H đi cùng M đến địa điểm hẹn, khi đến chỗ hẹn, một mình M ra gặp chị Th. Đang trong quá trình trao đổi thì M được Công an phường B mời về trụ sở làm việc cùng H và chị Th. Cùng ngày, Công an phường B đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V để xử lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Lã Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã thu giữ của Lã Xuân H: 01 chiếc điện thoại Iphone 6, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI 352074061367735 đồng thời ngày 12/3/2020, Cơ quan điều tra đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 40/YCĐT-CQĐT đối với chiếc điện thoại này. Tại Kết luận định giá tài sản số 30/2020/HĐĐG-KL ngày 12/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố V kết luận: “Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, số IMEI: 352074061367735 có giá là: 1.040.000 đồng (Một triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng chẵn).”

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định: Chiếc điện thoại Lã Xuân H trộm cắp trên là của chị Đặng Thị Xuân Th. Ngày 19/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chị Đặng Thị Xuân Th theo quy định, chị Th không có yêu cầu, đề nghị gì đối với Lã Xuân H, đồng thời chị Th có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lã Xuân H.

Bản Cáo trạng số: 91/CT-VKS-VT ngày 02/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo: Lã Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V giữ quyền công tố luận tội có quan điểm: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp lần này của bị cáo dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo có 01 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lã Xuân H từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 06 (Sáu) ngày (Từ ngày 11/3/2020 đến ngày 17/3/2020).

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có công việc và tài sản riêng gì.

- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, 19/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trả lại tài sản cho chị Đặng Thị Xuân Th, chị Th đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi đúng như Cáo trạng truy tố, bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.

. Về những chứng cứ xác định có tội hoặc không có tội: Lợi dụng việc sơ hở trong quản lý tài sản của chị Đặng Thị Xuân Th, ngày 10/3/2020, tại nhà chị Đặng Thị Xuân Th thuộc tổ 21, phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Lã Xuân H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone 6, màu vàng đã qua sử dụng trị giá 1.040.000 đồng (Một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) của chị Th với mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Xét hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, mặc dù giá trị tài sản trộm cắp lần này của bị cáo dưới 2.000.000 đồng nhưng bị cáo đã có 01 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V là có căn cứ.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo Lã Xuân H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo đã nhiều lần phạm tội và chịu hình phạt với hành vi của mình nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội; hành vi của bị cáo đã thể hiện sự coi thường pháp luật do đó Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo rèn luyện, cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và toàn bộ quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy bị cáo không tài sản riêng gì và không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại chị Đặng Thị Xuân Th đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V trả lại 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 6, màu vàng, đã qua sử dụng, IMEI 352074061367735 là tài sản mà H đã trộm cắp của chị Th theo Biên bản ngày 19/3/2020, chị Th đã nhận lại và không có đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét đến là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

[1]. Tuyên bố bị cáo Lã Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Xử phạt bị cáo Lã Xuân H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 06 (Sáu) ngày (Từ ngày 11/3/2020 đến ngày 17/3/2020).

[3]. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Lã Xuân H.

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo Lã Xuân H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ