- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 91/2020/HS-ST Ngày 02-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Minh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp
Ông Nguyễn Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 106/2020/HSST ngày 15 tháng 6 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1980 tại A; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đông A 1, phường M, thành phố L, tỉnh A; Nơi cư trú: Khu C, thị trấn L, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Cơ khí; Con ông Lê Văn L, sinh năm 1967 và bà Phạm Thị Ngọc H (đã chết); Vợ: Trần Quỳnh N (không đăng ký kết hôn); Con: Có 01 người con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/3/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Long Thành. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng:
1. Ông Lê Ngọc Ẩ, sinh năm 1955
Nơi cư trú: Tổ 10, khu C, thị trấn L, huyện Long Thành, Đồng Nai. (Vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1959
Nơi cư trú: Tổ 17, khu C, thị trấn L, Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H bắt đầu sử dụng ma túy (loại Methamphetamine) từ năm 2008 đến nay. Ngày 11/03/2020 (không rõ giờ cụ thể) H nhờ một người bạn tên N (không rõ nhân thân, lai lịch) mua giùm 03 gói ma túy với giá 1.400.000 đồng. Sau đó, H mang về cất giấu trong hộp màu đen để trong phòng trọ để sử dụng dần cho bản thân. Riêng đối với 01 gói ma túy cất giấu trong ống hình trụ là của một người bạn tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) cho H để sử dụng. Đến 20 giờ ngày 17/03/2020, lực lượng Công an thị trấn L kiểm tra hành chính phòng trọ của H thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 544/KLGĐ-PC09 ngày 23/03/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2141 gam loại Methamphetamine.
- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 1,3860 gam loại Methamphetamine.
- Mẫu thảo mộc khô (ký hiệu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,2867 gam loại Cần sa.
Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 gói nylon kích thước khoảng 01x 03cm, 02 gói nylon kích thước khoảng 05x 10cm tất cả bên trong đều chứa tinh thể màu trắng không rõ hình, nghi là ma túy tổng hợp và 01 gói nylon kích thước 07x 12cm, bên trong có chứa cỏ khô, nghi là cần sa.
Tại bản Cáo trạng số 227/CT-VKSNT ngày 10 tháng 6 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Lê Văn H từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) tháng tù.
Đối với người thanh niên tên Nhựt có hành vi mua giùm ma túy và người thanh niên tên L cho H ma túy nhưng hiện không rõ nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 gói được niêm phong chứa ma túy hoàn lại sau khi giám định số 544/PC09-GĐMT ngày 25 tháng 3 năm 2020.
Bị cáo Lê Văn H nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật của vụ án đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Lúc 20 giờ 10 phút ngày 17/03/2020, tại khu C, thị trấn L, huyện Long Thành. Lê Văn H có hành vi tàng trữ 03 gói nylon có chứa ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 1,6001 gam và 01 gói nylon có chứa ma túy loại cần sa có khối lượng 1,2867gam thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân dẫn đến những thiệt hại về tài sản, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm, là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với người thanh niên tên N có hành vi mua giùm ma túy và người thanh niên tên L cho H ma túy nhưng hiện không rõ nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra và xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: 01 gói được niêm phong chứa ma túy hoàn lại sau khi giám định số 544/PC09-GĐMT ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong chứa ma túy hoàn lại sau khi giám định số 544/PC09-GĐMT ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành theo biên bản bàn giao tang vật ngày 12 tháng 6 năm 2020.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND. T.Đồng Nai; - VKSND T.Đồng Nai; - Sở Tư pháp T.Đồng Nai; - Công an H.Long Thành; - VKSND H.Long Thành; - Chi cục THADS H.Long Thành; - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu AV, HS; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Minh Thảo |