- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn Lâm Thị Diễm M, bị đơn Lê Vĩ H"
- Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lâm Thị Diễm M và anh Lê Vĩ H là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2020/HN - ST Ngày: 18/12/2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Thị Huệ.
2. bà Hồ Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ý, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 274/2020/TLST - HNGĐ ngày 05/10/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2020/QĐXX - HN ngày 20/11/2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Diễm M, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Ấp C G, xã V Kh T, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Anh Lê Vĩ H, sinh năm: 2000. Địa chỉ: Ấp C, xã Đ H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 15/6/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Thị Diễm M trình bày và yêu cầu như sau: Chị M vaø anh Lê Vĩ H chung soáng vôùi nhau từ năm 2018. Trước khi chung sống thì anh chị có tìm hiểu nhau trước rồi mới tiến tới hôn nhân, hai bên gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương nhưng chị và anh H chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Sau khi đám cưới, anh chị về sinh sống tại ấp C G, xã V Kh T cho đến tháng 7/2019 thì anh chị ly thân cho đến nay.
Trong quaù trình chung soáng thì phaùt sinh maâu thuaãn. Nguyeân nhaân maâu thuẫn laø do chị M và anh H không hợp nhau về tính cách, thường xuyên cự cãi. Từ Bản án số 91/2020/HN - ST ngày 18/12/2020 (M - H) đó, anh chị luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Lâm Kiều V, sinh ngày 26/3/2019, cháu đang chung sống cùng anh H từ tháng 8/2020 cho đến nay.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Chị M yêu cầu:
- Veà hoân nhaân: Yêu cầu được ly hôn với anh Lê Vĩ H.
- Veà con chung: Yêu cầu được nuôi cháu V, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Vĩ H trình bày: Qua lôøi trình baøy của chị M về ngaøy vợ chồng chung sống, không coù đăng ký kết hôn, có 01 con chung hiện đang chung sống cùng anh H từ khi tháng 08/2020 cho đến nay, không có tài sản chung và không có nợ chung, nguyên nhân mâu thuẫn là đúng.
Anh H yêu cầu:
- Về hôn nhân: Anh H đồng ý ly hôn với chị M.
- Về con chung: Anh H yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu V, không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.
* Tại phiên tòa:
- Chị M và anh H: Vắng mặt.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với các đương sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không công nhận chị M và anh H là vợ chồng; giao cháu Vy cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng .
.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (gọi tắt là HĐXX) nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là tranh chấp dân sự về hôn nhân và gia đình. Khi nguyên đơn khởi kiện được Tòa án Bản án số 91/2020/HN - ST ngày 18/12/2020 (M - H) thụ lý vụ án giải quyết thì bị đơn là anh Lê Vĩ H có nơi cư trú tại ấp C, xã Đ H, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (Có xác nhận của chính quyền địa phương) là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Qua yêu cầu của các đương sự trong vụ án được xác định mối quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Tòa án tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ văn bản tố tụng để triệu tập chị M và anh H tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng chị M và anh H có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh H chung sống từ năm 2018 nhưng anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại cơ quan có thẩm quyền (UBND xã, phường, thị trấn nơi cả hai cư trú) và cho đến khi chị M có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh H thì anh chị vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn. Như vậy là vi phạm theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 mặc dù anh chị chung sống trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm các điều kiện kết hôn.
Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị M và anh H.
Về quan hệ con chung: Trong quá trình giải quyết, chị M và anh H xác nhận có 01 con chung là cháu Lâm Kiều V, sinh ngày 26/3/2019. Hiện nay đang chung sống cùng anh H. Anh chị thỏa thuận sau khi ly hôn, tiếp tục giao cháu Kiều V cho anh H nuôi dưỡng, anh H không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy, việc thỏa thuận của anh chị là tự nguyện, không ai ép buộc nên HĐXX ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị M và anh H xác nhận không có tranh chấp nên HĐXX không xem xét. Nhưng sau khi ly hôn, trường hợp có phát sinh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị vẫn có nghĩa vụ liên đới.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị M phải chịu án phí ly hôn số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Bản án số 91/2020/HN - ST ngày 18/12/2020 (M - H) Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lâm Thị Diễm M và anh Lê Vĩ H là vợ chồng.
2/ Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị M và anh H. Tiếp tục giao cháu Lâm Kiều V (sinh ngày 26/3/2019, giới tính nữ) cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh H không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng khi cần thiết, anh H có quyền yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị Diễm M chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo lai thu 0006007 ngày 29/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Chị M đã nộp án phí xong.
4/ Quyền kháng cáo: Chị M và anh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện An Minh; - TAND tỉnh KG; - Lưu HS, VP. Bản án số 91/2020/HN - ST ngày 18/12/2020 (M - H) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trịnh Thị Cẩm Lình |