- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Tuấn H truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Đặng Tuấn H 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 3 năm 2019.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 91/2019/HSST Ngày 30 tháng 5 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Hằng Huệ
2. Bà Nguyễn Thị Lan Ka
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Anh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ Tòa án nhân dân quân Ba Đình. Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2019/TL - HSST ngày 17 tháng 5 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2019 đối với:
Bị cáo Đặng Tuấn H, sinh năm 1980; Đăng ký hộ khẩu và nơi ở: Số 43/444 Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Đặng Văn Chinh, sinh năm: 1955; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Xuân Mai, sinh năm: 1958; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ 2; Họ và tên vợ: Chu Thị Tuyết Nhung, sinh năm 1982; có 02 con trai đều sinh năm 2012; Nhân thân: có 01 tiền án, 02 tiền sự (đã xóa). Bắt quả tang ngày 05/3/2019. Hiện bị can bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an TP Hà Nội. Số giam: 1582 T1/5. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Nguyễn Anh Tú, sinh năm 1972; Nơi cư trú: số 6, ngõ 204 phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 05/03/2019 một người phụ nữ tên là Nga dùng số điện thoại 0334.584.051 gọi vào số điện thoại 079.894.6388 của H, nhờ H mua cho Nga 02 gói Heroine và hẹn gặp Hải ở khu vực gầm cầu vượt Văn Cao, Hải đồng ý và đi đến điểm hẹn. Khi gặp nhau, Nga đưa cho H 470.000 đồng, trong đó 400.000 đồng là tiền mua 02 gói Heroine, còn 70.000 đồng là tiền công. Sau đó H đi đến khu vực khách sạn Khăn quàng đỏ trong ngõ 189 Hoàng Hoa Thám gặp và đưa cho 01 người phụ nữ tên là Minh 400.000 đồng để mua 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng/1 gói và trả nợ cho Minh 200.000 đồng mà trước đó Hải có vay của Minh. Sau khi mua được Heroine thì Hải đã sử dụng 01 gói, còn 01 gói thì H cất vào vào miệng rồi đi về điểm hẹn để đưa cho Nga. Đến khoảng 11 giờ 30 phút tại gầm cầu vượt Văn Cao, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội, Hải gặp và chuẩn bị đưa ma túy cho Nga thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận Ba Đình phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Trong lúc bắt giữ Hải, người phụ nữ mua ma túy tên là Nga đã bỏ chạy thoát. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Hải 01 điện thoại di động Nokia 3330 màu xanh (IMEI: 35523603081959) bên trong là SIM số: 079.894.6388 và 052.840.7065, 01 xe máy Honda Wave màu đen BKS: 29F1-028.65 và 75.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Tuấn H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của Hải phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra Hải khai trước khi bị bắt, vào trưa ngày 04/03/2019 Hải có mua của Minh 01 gói Heroine giá 200.000 đồng rồi bán cho Nga giá 250.000 đồng tại gầm cầu vượt Văn Cao, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội.
Kết luận giám định số: 1520/KLGĐ – PC09 ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,176 gam”.
Cáo trạng số: 102/CT-VKSBĐ ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có có 01 tiền án, 02 tiền sự (đã được xóa), thái độ khai báo thành khẩn, đã tự thú hành vi phạm tội vào ngày 04/3/2019.
Đề nghị về hình phạt: Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm r, s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã qua giám định có khối lượng 0,176 gam loại Heroine. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia 3330 màu xanh có số IMEI: 35523603081959, sim: 079.894.6388 và 75.000 đồng và Truy thu số tiền 245.000 đồng thu lời bất chính từ việc bán ma túy.
Đối với 02 người phụ nữ tên là Nga và Minh, là người mua và bán Heroine với Hải, do Hải khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy 01 xe máy Honda Wave màu đen BKS: 29F1-028.65, Hải khai mượn của ông Đặng Văn Chinh, sinh năm 1955; trú tại: số 43/444 Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội - là bố đẻ của Hải. Qua xác minh là tài sản hợp pháp của ông Chinh, ông không biết việc Hải mượn xe để đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy trên cho Chinh.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về gia đình làm ăn lương thiện nuôi vợ và các con.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;
[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 05/03/2019, sau khi mua được 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng của 01 người phụ nữ tên là Minh tại khu vực khách sạn Khăn quàng đỏ trong ngõ 189 Hoàng Hoa Thám, Đặng Tuấn H đã sử dụng 01 gói, sau đó Hải đi đến khu vực gầm cầu vượt Văn Cao, phường Liễu Giai, để bán ma túy cho 01 người phụ nữ tên là Nga thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy - Công an quận Ba Đình bắt quả tang, thu giữ của Hải 01 gói Heroine bọc bằng giấy màu trắng, khối lượng 0,176 gam.
Ngoài ra, bị cáo tự khai nhận trưa ngày 04/03/2019 tại khu vực gầm cầu vượt Văn Cao, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, bị cáo có hành vi bán trái phép 02 gói Heroine giá 250.000 đồng cho 01 người phụ nữ tên là Nga.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Những nội dung về thời gian, địa điểm, đặc điểm, trọng lượng và các tang vật bị thu giữ khi bán ma túy là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án, 02 tiền sự: Năm 2006 Công an phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Hết thời hiệu) ngày 15/07/2018 Công an quận Tây Hồ xử lý hành chính về hành vi “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 31/03/2009 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xét xử tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt 36 tháng tù. Chấp hành xong án phí và hình phạt phụ ngày 04/08/2009, ra trại ngày 20/06/2011 (đã được xóa án tích). Do vậy cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt là phạm tội 02 lần trở lên, do đó cần áp dụng Điểm b, Khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng hình phạt. Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 05/3/2019 và bị Công an bắt, trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự thú hành vi phạm tội ngày 04/3/2019. Do đó cần thiết áp dụng Điểm r, s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[3] Xử lý vật chứng:
Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã qua giám định có khối lượng 0,176 gam loại Heroine. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia 3330 màu xanh có số IMEI: 35523603081959, sim: 079.894.6388 và 75.000 đồng và số tiền 245.000 đồng do bị cáo thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung quỹ Nhà nước.
Đối với 02 người phụ nữ tên là Nga và Minh, là người mua và bán Heroine với Hải, do Hải khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy 01 xe máy Honda Wave màu đen BKS: 29F1-028.65, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Chinh là đúng theo quy định của pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như phần xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 251; Điều 38; Điểm r, s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Đặng Tuấn H 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 3 năm 2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 2, Điểm b, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã qua giám định có khối lượng 0,176 gam loại Heroine, bên ngoài có chữ ký của đối tượng Đặng Tuấn H và giám định viên Lê Khắc Nam; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Nokia 3330 màu xanh có số IMEI: 35523603081959, sim: 079.894.6388 theo biên bản bàn giao vật chứng số 115 ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình; 75.000 (Bảy mươi lăm nghìn) đồng theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 39491061691 tại kho bạc Nhà nước quận Ba Đình ngày 14 tháng 5 năm 2019 và số tiền 245.000 (Hai trăm bốn lăm nghìn) đồng do bị cáo thu lời bất chính;
Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, nếu bị cáo không thi hành khoản nêu trên, thì hàng tháng bị cáo phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 30 tháng 5 năm 2019./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình; - UBND phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Long |