- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHA DA THÀNH PHỐ LX | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 91 /2019/HS-ST Ngày 16/9/2019 |
NHA DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHA DA THÀNH PHỐ LX, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Hội thẩm nhA dA:
Bà Lê Thị Thanh VA;
Ông Phạm Thành Ngôn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhA dA thành phố LX, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhA dA thành phố LX xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 155/2019/HSST-QĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa hình sự sơ thẩm số 09/TB-MLPT ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhA dA thành phố LX đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Nam Mù), sinh năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 212/34 Lý Thái Tổ, khóm A, phường ML, thành phố LX, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dA tộc: kinh; giới T: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bảnh C, sinh năm 1956; có vợ là bà Mã Kim N, sinh năm 1994 và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018; nhA thA: Từ nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ tại phường ML, thành phố LX, đi học hết lớp 8 thì nghỉ. Tiền án: Ngày 31 tháng 7 năm 2017, bị Tòa án nhA dA thành phố LX xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đến ngày 23 tháng 8 năm 2017 chấp hành xong hình phạt; tiền sự: không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21 tháng 3 năm 2019 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1995; địa chỉ: số 247 Trần Hưng Đạo, khóm ĐA, phường MX, thành phố LX, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: + Ông Mai Thanh L, sinh năm 1966; địa chỉ: số 22X Lý Thái Tổ, khóm PQ, phường ML, thành phố LX, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Người làm chứng: + Ông Trần XuA S, sinh năm 1994, vắng mặt. + Ông Nguyễn Hồng A, sinh năm 1993, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ ngày 09 tháng 9 năm 2018, Nguyễn Văn T cùng với Trần XuA S, Nguyễn Hồng A và Nguyễn Thanh L uống bia tại quán Phố Đêm, khóm PQ, phường ML, thành phố LX. Trong lúc uống bia, S, L kể lại mâu thuẫn giữa S với L lúc còn học chung trường phổ thông nên xảy ra cự cãi, thách thức đánh nhau thì được A và T can ngăn. L tiếp tục thách thức đánh nhau với S thì bị T cầm vỏ chai bia hiệu Tiger trên bàn đánh vào vùng đầu bên trái của L làm vỡ chai bia,gây thương tích cho L. Sau đó, L được đưa đến Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang khâu vết thương rồi ra về. Ngày 24 tháng 9 năm 2018, Nguyễn Thanh L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 01/19/TgT ngày 03 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang xác định Nguyễn Thanh L, sinh năm 1995, bị sẹo đính trái kích thước 02 x 01cm và 0.5 x 0.5cm. Tỷ lệ tổn thương là 03%. Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhA dA thành phố LX đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ hình phạt.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố LX, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhA dA thành phố LX, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng; phù hợp với thương tích trên người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo biết rõ hành vi dùng vỏ chai bia hiệu Tiger làm bằng thủy tinh là hung khí nguy hiểm để đánh vào vùng đầu bên trái của anh Nguyễn Thanh L gây thương tích, nguy hiểm đến sức khỏe và T mạng của bị hại với tỷ lệ thương tật là 03%.
Thấy rằng, trước khi sự việc xảy ra, qua lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng thì cách thức bị cáo thực hiện hành vi, công cụ mà bị cáo gây thương tích cho bị hại phù hợp với các vết thương trên người bị hại. Về ý thức của bị cáo đối với bị hại là do bị cáo nóng giận tức thời. Bị cáo không có ý định nhắm vào vị trí nào trên cơ thể của bị hại và không có ý định giết người. Vì vậy, không có cơ sở xác định bị cáo muốn tước đoạt T mạng sống của bị hại.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm sức khỏe của người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thông qua cách thức bị cáo thực hiện hành vi. Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn với nhau nhưng bị cáo lại dùng vỏ chai bia là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” và “có T chất côn đồ” được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhA dA thành phố LX truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về T chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi của bị cáo:
Sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhA và là nền tảng để mỗi người lao động, phát triển. Chính vì vậy, quyền được an toàn về sức khỏe của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đối với những người xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất, là hình phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với T chất, mức độ, nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung về tội phạm xã hội. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo Nguyễn Văn T đã từng bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý nên được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. [5] Về trách nhiệm dA sự: Bị hại và những người liên quan đến vụ án không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết. [6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Xử phạt: Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được T kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. 2. Về trách nhiệm dA sự: không đề cấp giải quyết. 3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a, c, g khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhA dA tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dA sự thì người được thi hành án dA sự, người phải thi hành án dA sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dA sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dA sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. LX; - VKSND tỉnh An Giang; - TAND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp; - Nhà Tạm giữ Công an TP. LX; - CQTHAHS Công an TP. LX; - CQĐT Công an TP. LX; - Chi cục THADS TP. LX; - Bộ phận THA Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |