vanban.org

Bản án 91/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 11/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trương Bảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Trương Bảo S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Bảo S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2019/HS-ST
Ngày: 11-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hạnh.

2. Ông Trần Văn Hoa.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Bảo Anh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức – tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên .

Ngày 11 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019, đối với:

Bị cáo:Trương Bảo S (Tên gọi khác: Tèo); giới tính: Nam; Sinh năm: 1995 tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. HKTT và nơi cư trú: ấp Lộc Hòa, xã Bình Giã, huyện Châu Đức, tỉnh BR-VT. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Trình độ văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Thợ hồ. Con ông Trương Văn Lệ; Sinh năm: 1974; Con bà Trương Thị Kim Loan; Sinh năm: 1974. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo vó vợ là Nguyễn Thị Thanh Hằng; sinh năm: 1997; Bị cáo có 02 người con, con thứ nhất sinh năm 2017 và con thứ hai sinh năm 2019. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 15/11/2010 bị cáo bị UBND huyện Châu Đức ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng vì đã có hành vi trộm cắp tài sản. Hiện bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/8/2019 cho đến nay. (Có mặt)

Bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1969. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 57 thôn Tam Long, xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, sinh năm 1997. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Bình Cách, xã Tân Thạnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

2. Ông Nguyễn Anh Triều, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3. Ông Nguyễn Xuân Lý, sinh năm 1968. (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn S Lập, xã S Bình, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

4. Ông Phạm Đăng Cường, sinh năm 1988. (Có mặt)

Địa chỉ: Số 2808B Điện Biên Phủ, phường Phước Nguyên, T phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

5. Ông Phạm Hữu Minh Hải, sinh năm 1990. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 0 giờ 30 phút ngày 16 tháng 7 năm 2019, Trương Bảo S điều khiển xe mô tô biển số: 72L1-0964 đến khu vực xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu để trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà nghỉ “Kim T” ở thôn Tam Long, xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu do ông Lê Văn T làm chủ, quan sát thấy không có ai S điều khiển xe mô tô biển số: 72L1-0964 giấu vào lô cao su đối diện rồi đi bộ sang đường leo hàng rào vào bên trong nhà nghỉ. Khi đến khu vực hành lang, S thấy cửa phòng không khóa, tại đây S đã lấy 01chiếc Laptop hiệu Apple-Macbook Air A1466 (kèm theo cục sạc pin) và 01 chiếc Ipad hiệu Apple-A1954 để trong tủ quần áo. Sau đó, S đi ra ngoài thì phát hiện trên tủ của phòng bếp có 01 điện thoại di động hiệu Nokia-3310 và số tiền 1.700.000đ nên đã lấy và tẩu thoát.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, Trương Bảo S cùng với Nguyễn Thị Thanh Hằng mang 01 Laptop hiệu Apple-Macbook Air A1466 (kèm theo cục sạc pin) đến tiệm sửa chữa máy vi tính “Hoàng Hải” do ông Phạm Hữu Minh Hải làm chủ để chạy lại chương trình; mang chiếc điện thoại di dộng hiệu Nokia-3310 bán cho ông Nguyễn Anh Triều với giá 200.000đ và mang chiếc Ipad hiệu Apple-A1954 bán cho ông Phạm Đăng Cường với giá 800.000đ. Đến 20 giờ cùng ngày, Trương Bảo S quay lại tiệm sửa chữa máy vi tính Hoàng Hải để lấy Laptop thì bị Công an huyện Châu Đức triệu tập về làm việc và bị thu giữ trong người số tiền là 2.700.000đ và 01 xe mô tô biển số: 72L1-0964.

Quá trình điều tra, ông Nguyễn Anh Triều giao nộp 01 điện thoại di động Nokia-3310; anh Phạm Đăng Cường giao nộp 01 Ipad hiệu Apple-A1954; ông Phạm Hữu Minh Hải giao nộp 01 Laptop Apple-Macbook Air A1466 và 01 cục sạc pin của máy Laptop Apple-Macbook Air.

Tại Bản kết luận định giá số: 106/HĐĐG ngày 26/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Đức kết luận giá trị tài sản thiệt hại gồm 01 điện thoại di động hiệu Nokia-3310 trị giá 600.000 đồng; Laptop Apple-Macbook Air A1466 màu bạc, 13inch, bộ nhớ 4Gb và cục sạc pin trị giá 8.800.000đ; Ipad Gen 6 wifi Cellular, màu xám, loại 32Gb có trị giá 10.392.000đ; Tổng giá trị tài sản thiệt hại theo biên bản định giá là: 19.792.000 đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản và tiền mà bị cáo Trương Bảo S trộm cắp được là 21.492.000đ.

Vật chứng vụ án:

Vật chứng đã xử lý gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia-3310; 01 Laptop Apple-Macbook Air A1466 màu bạc, 13inch, bộ nhớ 4Gb và cục sạc pin; 01 Ipad Gen 6 wifi Cellular, màu xám, loại 32Gb và 1.700.000đ là tài sản của ông Lê Văn T. Ngày 12 tháng 8 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Đức đã trả lại toàn bộ số tài sản trên cho bị hại Lê Văn T.

Vật chứng chưa xử lý gồm:

- Số tiền 1.000.000đ mà Trương Bảo S bán điện thoại di động Nokia- 3310 cho anh Nguyễn Anh Triều với giá 200.000đ và bán Ipad Gen 6 wifi Cellular, màu xám, loại 32Gb cho ông Phạm Đăng Cường với giá 800.000đ mà có. Ông Triều và ông Cường không yêu cầu nhận lại. Hiện đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý.

- Xe mô tô biển số: 72L1-0964 (SM: 52FMH3-5A305328; SK: PD5A-005328), giấy tờ xe mang tên Nguyễn Xuân Lý (sinh năm: 1968; trú: ấp S Lập, xã S Bình, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu), ông Lý đã bán xe vào tháng 12/2006 cho một người không rõ lai lịch, tháng 1/2019 Trương Bảo S đã mua lại chiếc xe với giá 2.300.000đ của một người không rõ lai lịch. S sử dụng xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản, hiện chiếc xe đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý. Ngày 26 tháng 8 năm 2019 Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Châu Đức đã ban hành thông báo số 814/CSĐT-ĐTTH về việc thông báo tìm chủ sở hữu, người có quyền lợi liên quan đến xe mô tô tuy nhiên đến nay vẫn không có chủ sở hữu hoặc người có quyền lợi liên quan đến chiếc xe môtô trên liên hệ để được giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Lê Văn T đã nhận lại những tài sản bị mất và không yêu cầu cũng không khiếu nại gì về bồi thường dân sự. Ông Nguyễn Anh Triều và ông Phạm Đăng Cường không yêu cầu Trương Bảo S phải trả lại số tiền đã mua điện thoại di dộng Nokia-3310 và Ipad Gen 6 wifi Cellular.

Tại Cáo trạng số: 99/CT-VKS, ngày 23-10-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Đức để xét xử bị cáo Trương Bảo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Các điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000đ là số tiền bị cáo bán điện thoại di dộng Nokia- 3310 và Ipad Gen 6 wifi Cellular. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu WAIT, màu đỏ đen, biển số 72L1-0964, số máy 52FMH3-5A305328, số khung PD5A-005328.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là đúng theo Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố cũng như lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, bị cáo T khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đồng thời bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì hiện tại bị cáo có hai con nhỏ cần bị cáo chăm sóc nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị hại là ông Lê Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, ông Nguyễn Anh Triều, ông Phạm Hữu Minh Hải vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người trên không gây cản trở cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, ông Nguyễn Anh Triều, ông Phạm Hữu Minh Hải.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Bảo S đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 0 giờ 30 phút ngày 16 tháng 7 năm 2019 tại nhà nghỉ Kim T thuộc thôn Tam Long, xã Kim Long, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, bị cáo Trương Bảo S đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Lê Văn T 01 chiếc Laptop hiệu Apple-Macbook Air A1466 (kèm theo cục sạc pin), 01 chiếc Ipad hiệu Apple-A1954, 01 điện thoại di động hiệu Nokia-3310 và số tiền 1.700.000đ. Sau khi trộm cắp khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo S cùng với Nguyễn Thị Thanh Hằng mang 01 Laptop hiệu Apple-Macbook Air A1466 (kèm theo cục sạc pin) đến tiệm sửa chữa máy vi tính “Hoàng Hải” để chạy lại chương trình; mang chiếc điện thoại di dộng hiệu Nokia-3310 bán cho ông Nguyễn Anh Triều với giá 200.000đ và mang chiếc Ipad hiệu Apple-A1954 bán cho ông Phạm Đăng Cường với giá 800.000đ. Tổng số tài sản và tiền bị cáo chiếm đoạt của ông Lê Văn T là 21.492.000đ. Xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trương Bảo S về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo Trương Bảo S đủ dấu hiệu cấu T tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, ngoài ra còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu cụ thể ngày 15/11/2010, bị cáo bị UBND huyện Châu Đức ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng vì đã có hành vi trộm cắp tài sản. Như vậy dù bị cáo đã bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm để răn đe giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng trong vụ án: Số tiền Trương Bảo S bán điện thoại di động Nokia- 3310 và bán Ipad Gen 6 wifi Cellular tổng cộng là 1.000.000đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Anh Triều và ông Phạm Đăng Cường đều không yêu cầu nhận lại số tiền trên, hiện số tiền này đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức để quản lý. Hội đồng xét xử xét thấy số tiền 1.000.000đ này do hành vi phạm tội mà có, là thu lợi bất chính; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Xe mô tô biển số: 72L1-0964 (SM: 52FMH3-5A305328; SK: PD5A-005328) được Trương Bảo S dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Châu Đức đã ban hành thông báo tìm chủ sở hữu, người có quyền lợi liên quan đến xe mô tô tuy nhiên đến nay vẫn không có ai đến liên hệ để được giải quyết. Đây là chiếc xe bị cáo sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Lời đề nghị của đại diện viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức về mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng như đã nêu trong phần nội dung là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trương Bảo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Trương Bảo S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Trương Bảo S 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày ngày bắt thi hành án.

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 72L1-0964, số máy 52FMH3-5A305328, số khung PD5A-005328.

(Các vật chứng trên được gửi tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-10-2019).

3/ Án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Trương Bảo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

4/ Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án (11-11-2019). Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ