vanban.org

Bản án 91/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Ngọc O, cho chị Lê Ngọc O được ly hôn anh Trần Văn S.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung Trần Quốc T (nam), sinh ngày 14/11/2004 cho chị Lê Ngọc O tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Ngọc O tranh chấp ly hôn nah Trần Văn S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Ngọc O, cho chị Lê Ngọc O được ly hôn anh Trần Văn S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI,TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2019/HNGĐ-ST
Ngày 20 - 5 - 2019
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc O, sinh năm 1980; cư trú tại: Ấp MT, xã TAK, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn S, sinh năm 1975; cư trú tại: Ấp MT, xã Tạ AK, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Lê Ngọc O trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lê Ngọc O và anh Trần Văn S tổ chức đám cưới vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TA K, huyện ĐD. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh S thường xuyên uống rượu bia và bạo lực với chị O. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được gia đình hai bên hàn gắng nhưng không được. Nay chị O yêu cầu được ly hôn anh S.

- Về con chung: Có hai người con chung tên Trần Kim N, sinh năm 1998 và Trần Quốc T, sinh ngày 14/11/2004. Cháu Trần Kim N đã trưởng thành nên chị O không yêu càu Tòa án giải quyết, đối với cháu Trần Quốc T hiện đang do chị O nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị O yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Chị O và anh S tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ người khác, người khác nợ lại: Chị O xác định không có.

* Đối với bị đơn anh Trần Văn S: Không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị O.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị O có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh S vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với đối với chị O và anh S.

[2] Về hôn nhân: Chị O và anh S kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tạ An Khương, huyện Đầm Dơi vào ngày 16/9/2004 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị O có yêu cầu ly hôn, anh S không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị O. Do đó, cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị không còn tồn tại, có tiếp tục duy trì cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị O cho chị O được ly hôn anh S.

Về con chung: Xét thấy hiện nay cháu Trần Kim N đã trưởng thành, chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với cháu Trần Quốc T đã được chị O nuôi dưỡng ổn định, anh S không có ý kiến phản đối yêu cầu nuôi con của chị O. Mặc khác, tại “ Biên bản về việc ghi ý kiến con chung” ngày 03/4/2019 tại Tòa án cháu T cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ là Lê Ngọc O là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị O giao cháu T cho chị O tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng chị O không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị O và anh S tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ người khác và người khác nợ lại: Chị O xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị O phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Ngọc O, cho chị Lê Ngọc O được ly hôn anh Trần Văn S.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Trần Quốc T (nam), sinh ngày 14/11/2004 cho chị Lê Ngọc O tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

2.2. Anh Trần Văn S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Ngọc O phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0009108 ngày 07 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; Chị Lê Ngọc O đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ