vanban.org

Bản án 91/2019/DS-ST — Dân sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 04/06/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.

Buộc ông Trần Văn B và bà Hồ Thị L1 có nghĩa vụ trả cho ông L số tiền 34.224.597 đồng (gồm vốn gốc 26.463.000 đồng và tiền lãi 7.761.597 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp về hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 91/2019/DS-ST
Ngày: 04/6/2019
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Thanh Hùng;

2. Ông Lê Văn Phu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện AP.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện AP tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện AP xét xử công khai vụ án thụ lý số: 03/2019/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1968

Địa chỉ: Tổ 14, ấp VT B, xã VH, thị xã TC, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn B, sinh năm 1973

Bà Hồ Thị L1, sinh năm 1973

Địa chỉ: Tổ 02, ấp PT, xã PH, huyện AP, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng ông L trình bày: Ông có mở cửa hàng mua bán phân bón, thuốc trừ sâu cho bà con nông dân. Từ ngày 06/4/2016, ông B có đến cửa hàng của ông mua phân bón và thuốc sâu nhiều lần, thỏa thuận sau khi thu hoạch thì thanh toán nhưng không thực hiện, tính đến tháng 7/2016 còn nợ lại 66.073.000 đồng. Ông đã nhiều lần đến gặp vợ chồng ông B yêu cầu thanh toán nhưng vợ chồng ông tránh né, không trả tiền. Ngày 04/8/2016 ông B trả được 36.073.000 đồng, sau đó mua thêm một số thuốc sâu, cộng lại còn nợ ông 36.463.000 đồng, đến ngày 06/01/2017 ông B trả được 10.000.000 đồng thì ngưng cho đến nay. Nay ông yêu cầu ông B, bà L1 có trách nhiệm liên đới trả cho ông 26.463.000 đồng tiền mua vật tư nông nghiệp và tính lãi theo mức lãi suất 1%/tháng trên số vốn kể từ ngày 06/01/2017 cho đến khi giải quyết xong vụ án.

Ông B, bà L1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông L.

Do không ghi nhận được ý kiến của ông B, bà L1 về việc ông bà có tham gia giao dịch mua bán với ông L và có nợ hay không, Toà án đã thực hiện thủ tục xác minh để làm rõ. Tại biên bản xác minh ngày 25/4/2019, người làm chứng là ông Hồ Văn Dũng cho biết: Ông thường mua phân bón của ông L nên ông B có nhờ ông dẫn qua gặp ông L để mua phân bón, thuốc sâu. Ông B mua được 02 vụ, vụ đầu thì trả dứt nhưng vụ sau thì có trả nhưng không đầy đủ và có nợ lại nên ông L không bán nữa. Ông và ông B có qua gặp ông L để mua phân thuốc thêm nhưng ông L nói là phải trả hết thì mới bán, sau đó ông L và ông B kết sổ với nhau, số tiền mà ông B còn nợ lại là 26.463.000 đồng có sự chứng kiến của ông. Hiện ông B và bà L1 vẫn còn là vợ chồng và đã đi làm thuê, không có ở địa phương.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về cách giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải do ông B, bà L1 vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ đương sự có mặt không yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, không cung cấp chứng cứ mới và không thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên toà:

Ông L có đơn xin xét xử vắng mặt, bảo lưu ý kiến đã trình bày tại đơn khởi kiện và các biên bản hoà giải. Ông B, bà L1 vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng: Thẩm phán, Thư ký trong quá trình tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử không thuộc truờng hợp phải thay đổi.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Ông B, bà L1 đã được tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, hoà giải nhưng vắng mặt và không gửi cho Toà án văn bản trình bày ý kiến cũng như chứng cứ liên quan đến vụ án nên xem như đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Tại phiên toà ông B, bà L1 vắng mặt mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, riêng ông L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà là đúng pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà có cơ sở xác định việc mua bán giữa ông L với vợ chồng ông B, bà L1 là có xảy ra. Quá trình thanh toán phía ông B còn thiếu tiền ông L và ông bà cũng không có ý kiến về việc này nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 thì đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện AP.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông B, bà L1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, ông L có đơn xin xét xử vắng mặt Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các ông bà.

Việc áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án: Mặc dù việc mua bán phát sinh trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực thi hành nhưng thời điểm quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn bị xâm phạm là sau ngày 01/01/2017, đồng thời giao dịch giữa các bên vẫn còn đang được thực hiện, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án áp dụng những quy định của Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Năm 2016, ông L và ông B có thoả thuận với nhau về việc mua bán vật tư dùng trong nông nghiệp, thời gian thanh toán tiền cho ông L là sau khi thu hoạch xong. Việc mua bán không có lập thành văn bản nhưng ông L cho biết do tập quán mua bán vật tư nông nghiệp thì người bán ghi sổ cái và giao cho người mua một quyển sổ phụ để theo dõi việc mua hàng và trả tiền. Quá trình mua bán phía ông B có thực hiện việc thanh toán và mua lại phân bón, thuốc trừ sâu nhiều lần, tính đến ngày 06/01/2017 thì còn thiếu lại 26.463.000 đồng.

Mặc dù Toà án không ghi nhận được ý kiến của ông B về việc có mua hàng và còn thiếu tiền ông L như ông L đã trình bày, tuy nhiên căn cứ kết quả xác minh được ông Hồ Văn Dũng cho biết việc ông B mua vật tư nông nghiệp của ông L và có thiếu nợ là có thật, ông có chứng kiến ông L và ông B kết toán sổ sách với khoản nợ còn lại là 26.463.000 đồng.

Toà án đã tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, hoà giải cho ông B, bà L1 nhưng ông bà không đến tham gia hoà giải và cũng không có văn bản hay ý kiến trình bày đối với yêu cầu của ông L. Kết quả xác minh tình trạng cư trú của ông bà tại xã PH thể hiện ông B và bà L1 là vợ chồng và vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú, thường tới lui thăm nhà chứ không phải bỏ đi nơi khác.

Do ông B, bà L1 không đến Toà án để tham gia phiên hoà giải nhằm tìm giải pháp thanh toán khoản nợ còn thiếu, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và tại phiên toà, ông bà vắng mặt không có lý do nên xem như đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử theo những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và do Toà án thu thập được.

Do ông B, bà L1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo khoản 1 Điều 440 Bộ luật dân sự, do vậy buộc ông bà có nghĩa vụ trả cho ông L số tiền là 26.463.000 đồng.

Về lãi suất do không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền: Ông L có yêu cầu Toà án buộc ông B, bà L1 trả lãi theo mức lãi súât 1%/tháng đối với khoản tiền chưa thanh toán kể từ ngày 06/01/2017 đến khi giải quyết xong vụ án. Xét thấy mức lãi suất do ông L yêu cầu phù hợp với quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự nên chấp nhận, tuy nhiên việc ông yêu cầu tính lãi từ ngày 06/01/2017 đến khi giải quyết xong vụ án không có căn cứ chấp nhận, do vậy chỉ tính lãi cho ông đến ngày xét xử là ngày 04/6/2019.

Tiền lãi được tính như sau:

26.463.000 đồng x 1% x (880 ngày : 30) = 7.761.597 đồng.

Như vậy số tiền mà ông B, bà L1 có nghĩa vụ trả cho ông L là: 34.224.597 đồng.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì nguyên đơn không phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận toàn bộ. Bị đơn phải chịu án phí. Hoàn lại tạm ứng án phí cho ông L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 228, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 430, 440 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.

Buộc ông Trần Văn B và bà Hồ Thị L1 có nghĩa vụ trả cho ông L số tiền 34.224.597 đồng (gồm vốn gốc 26.463.000 đồng và tiền lãi 7.761.597 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Án phí: Hoàn lại 817.000 đồng tạm ứng án phí mà ông L đã nộp theo biên lai thu số 0011009 ngày 02/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện AP.

Ông B, bà L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.711.229 đồng.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án được quyền kháng cáo trong thời hạn trên kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ