vanban.org

Bản án 91/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 09/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 gậy cao su màu đen dài 52cm, hình tr tròn; 01 gậy nhựa màu đỏ trắng, dài 44,5cm, hình tr tròn; 01 thanh gỗ màu nâu dài 50cm, rộng 5cm, dày 01cm; 02 c c đá; 02 tha…

Về án phí: Áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTTQH c a Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn T, Trần Văn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị h i, người có quyền lợi liên quan có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "178.Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏ…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 gậy cao su màu đen dài 52cm, hình tr tròn; 01 gậy nhựa màu đỏ trắng, dài 44,5cm, hình tr tròn; 01 thanh gỗ màu nâu dài 50cm, rộng 5cm, dày 01cm; 02 c c đá; 02 tha…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2018/HS-ST
Ngày 09-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN,THÀNH PHỐHẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Bà Ngô Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2018, t i tr s Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm v án hình sự th lý số 69/2018/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 94/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn T, sinh năm 1977 t i Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 5, xã T , huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thị Q ; vợ: Nguyễn Thị N ; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Bản án số 131 ngày 11/9/2007, Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên , thành phố Hải Phòng xử ph t 30 tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội H y ho i tài sản; Bản án số 116 ngày 15/7/2013 Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xử ph t 24 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; Bản án số 83 ngày 12/11/2013 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử ph t 02 năm 06 tháng tù về tội Chống người thi hành công v và 02 năm tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, tổng hình ph t là 04 năm 06 tháng tù, tổng hợp hình ph t với Bản án só 116/2013/HSST ngày 15/7/2017 c a Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên là 06 năm 06 tháng tù; bị áp d ng biện pháp ngăn chặn t m giữ từ ngày 18/4/2018 đến ngày 24/4/2018 chuyển t m giam; có mặt.

2. Trần Văn K , sinh năm 1982, t i Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 11, xã H , huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Ph m Thị L ; chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 46 ngày 30/6/1999, Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xử ph t 24 tháng tù tội Cố ý gây thương tích, thời h n tù tính từ ngày 11/02/1999 (khi ph m tội 16 tuổi 4 tháng 14 ngày); Bản án số 54 ngày 19/7/1999 (xét xử hành vi xảy ra trước hành vi c a Bản án số 46 ngày 30/6/1999, khi ph m tội 16 tuổi 20 ngày), Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng xử ph t 06 tháng tù tội Cưỡng đo t tài sản c a công dân (trị giá tài sản là 2.500.000 đồng), 09 tháng tù tội Lừa đảo chiếm đo t tài sản c a công dân (trị giá tài sản là 800.000 đồng), 09 tháng tù tội L m d ng tín nhiệm chiếm đo t tài sản c a công dân (trị giá tài sản là 1.200.000 đồng), 09 tháng tù tội Trộm cắp tài sản c a công dân (trị giá tài sản là 1.150.000 đồng), tổng hình ph t là 33 tháng tù, tổng hợp hình ph t với Bản án số 46/HSST ngày 30/6/1999 c a Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên là 57 tháng tù, thời h n tù tính từ ngày 11/02/1999; Bản án số 130 ngày 07/4/2000 (xét xử hành vi khi Bản án số 46 và Bản án số 54 chưa có hiệu lực pháp luật), Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử ph t 18 năm tội Giết người, tổng hợp hình ph t với Bản án số 54/HSST ngày 19/7/1999 c a Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên buộc bị cáo phải chấp hành hình ph t chung là 20 năm tù, thời h n tù tính từ ngày 11/02/1999. (chấp hành xong hình ph t tù ngày 11/11/2016, chưa xóa án tích); bị áp d ng biện pháp ngăn chặn t m giữ từ ngày 20/4/2018 đến ngày 23/4/2018 chuyển t m giam; có mặt.

Bị h i:

- Ông Bùi Văn D , sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Ông Bùi Đức Y , sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn 7, xã H, huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Bà Nguyễn Thị H , sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn 5, xã T, huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Ông Đỗ Văn L , sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn 8, xã L, huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Ông Hoàng Văn Ẩ , sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn 5, xã G, huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng măt.

- Công ty Trách nhiệm hữu H n dịch v bảo vệ H; địa chỉ: Phường K , quận , thành phố Hải Phòng; người đ i diện theo y quyền theo y quyền: Ông Trần Lương N - Cán bộ công ty Trách nhiệm hữu H n dịch v bảo vệ H; có mặt.

Người có quyền lợi liên quan:

- Công ty trách nhiệm hữu h n dịch v bảo vệ A; địa chỉ: Phường H , quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Ngân hàng Thương m i Cổ phần Đ; địa chỉ tr s : Trần Hưng Đ o, quận H, thành phố Hà Nội; người đ i diện theo y quyền: Ông Lê Văn T – Giám đốc Thu giữ và Xử lý tài sản bảo đảm khu vực miền Bắc, Ngân hàng Thương m i Cổ phần Đ; có mặt.

- Chị Nguyễn Thị N , sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn 5, xã T, huyện T , thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn C ; vắng mặt.

- Anh Bùi Đức D ; vắng mặt.

- Anh Bùi Văn T ; vắng mặt.

- Anh Trần Bá H ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau: Lê Văn T là nhân viên c a Công ty trách nhiệm hữu h n dịch v bảo vệ A (gọi tắt là công ty A). Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06/02/2018, sau khi uống rượu, T điều khiển xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu Ford Ranger, BKS 15C-280.62 ch Trần Văn K , Nguyễn Văn C về nhà. Trên đường về, T cho rằng Công ty trách nhiệm hữu h n dịch v bảo vệ H (gọi tắt là công ty H) có tranh chấp về việc đặt chốt bảo vệ với công ty A nên đã nảy sinh ý định đập phá các chốt bảo vệ c a công ty H. T khai đã nhiều lần T yêu cầu nhân viên công ty H lên công an xã D hỏi về việc được bảo vệ khu Công nghiệp V, T cho rằng chỉ có công ty c a T mới có thẩm quyền bảo vệ, nhưng nhân viên công ty H không xuất trình được giấy tờ.

Tiệp điều khiển xe ô tô đến chốt bảo vệ A4 c a công ty H khu vực bờ đê thôn L, xã Dương Quan, huyện Th y Nguyên, T điều khiển xe ô tô đâm vào chiếc xe mô tô nhãn hiệu Super Cup, BKS 15AF-045.64 c a ông Bùi Văn D , là bảo vệ t i chốt, làm xe mô tô bị hư hỏng. Tiệp xuống xe, cầm gậy cao su đi đến cửa ra vào c a chốt, đập vỡ kính rồi dùng tay giữ cửa chốt. Khanh đi đến dùng tay đấm vỡ các ô cửa kính c a chốt bảo vệ. Thấy T , K đập vỡ cửa kính, C xông đến ôm can đẩy T lên xe ô tô. T tiếp t c điều khiển xe ô tô đi đến chốt A5 c a công ty H thôn B, xã T, huyện Th y Nguyên do ông Bùi Đức Y làm nhiệm v bảo vệ. Lúc này, thấy không có người bảo vệ t i chốt, T và K bê g ch, đá ném vào các ô cửa kính c a chốt bảo vệ làm vỡ các ô cửa kính. Thấy vậy, C đã xông vào ôm ngăn cản T không cho T đập phá nữa. Quá trình đập phá t i chốt A5, K làm rơi 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Nokia màu đen. Tiệp điều khiển xe ô tô đến chốt A2 c a công ty Hồng Hải thôn 5, xã Tân Dương, huyện Th y Nguyên do ông Đỗ Văn L làm nhiệm v bảo vệ. T i đây, có ông Bùi Đức Y và ông Đỗ Văn L , T xuống xe hô “Đập tan chốt này cho tao” rồi cầm ghế nhựa c a chị Nguyễn Thị H (bảo vệ mượn trước đó để ngồi t i chốt), mũ bảo hiểm c a ông Yên đập vào ô kính c a chốt, K đi vào cầm tay vào cánh cửa ra vào chốt, kéo đẩy m nh làm cho cánh cửa va vào thành cửa làm vỡ các ô kính. C vào can ngăn đẩy T lên xe ô tô không cho T và K đập nữa. Sau đó, T điều khiển xe ch K , C đến chốt A3 c a công ty H thôn C, xã D, huyện Th y Nguyên do ông Bùi Đức D làm nhiệm v bảo vệ. T ngồi trên xe, K xuống xe dùng tay đập phá các ô cửa kính c a chốt bảo vệ, C xuống can ngăn kéo K lên xe ôtô không cho K đập phá nữa.

Tiệp tiếp t c điều khiển xe ô tô đến chốt bảo vệ B1 c a công ty H t i khu vực vòng xuyến ngã tư đường Đông, Khu công nghiệp V , T và K xuống xe, T dùng tay kéo cửa sổ chốt còn K dùng tay hất đổ 01 bộ cốc chén c a ông Hoàng Văn Ẩ (là nhân viên bảo vệ) xuống đất làm vỡ bộ ấm chén. Sau khi đập phá xong, T điều khiển xe ô tô ch K , C về nhà, xe ô tô T điều khiển về chi nhánh công ty A t i thôn 5, xã T, huyện Th y Nguyên để đó. Sau đó, T , K bỏ trốn.

Ngay sau khi được các nhân viên bảo vệ báo cáo việc bị T , K đập phá hỏng các chốt bảo vệ, Công ty H làm đơn trình gửi công an huyện Th y Nguyên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th y Nguyên đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định:

T i chốt bảo vệ A4: Các ô kính, cửa kính bị vỡ, nứt hư hỏng, tấm kim lo i bị bóp méo; xe mô tô BKS 15AF-045.64 c a ông Bùi Văn D Mayơ bánh sau bị vỡ; vành bánh xe sau bị cong vênh; đèn tín hiệu phía sau bên trái bị xô lệch, vỡ nứt; khung kim lo i bảo vệ đèn hậu phía sau bị xô lệch hư hỏng. T i chốt bảo vệ A5: Chốt then cài kim lo i bị cong vênh hư hỏng; các ô kính bị th ng, vỡ nứt hư hỏng; tấm kim lo i bị rách, th ng. T i chốt bảo vệ A2: Các ô kính, cửa kính bị vỡ, nứt hỏng; điện tho i di động nhãn hiệu SamSung c a ông Đỗ Văn L để trong chốt bị hư hỏng; mũ bảo hiểm c a ông Bùi Đức Y bị vỡ kính chắn gió; chiếc ghế nhựa c a chị Nguyễn Thị H bị đập vỡ. T i chốt bảo vệ A3: Các ô kính, cửa kính bị vỡ, nứt hỏng. T i chốt bảo vệ B1: 01 bộ cốc chén c a ông Hoàng Văn Ẩ bị vỡ.

Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ: Một số mảnh vỡ kính bằng th y tinh t i các chốt A4, A5, A2, A3; 01 thanh gỗ dài 50cm, rộng 5cm, dày 1cm (t i chốt A4); 01 điện tho i di động nhãn hiệu Nokia c a Trần Văn K , 02 c c đá và 02 thanh kim lo i màu xám (t i chốt A5); 01 mũ bảo hiểm màu nâu và 01 kính chắn gió bằng nhựa c a mũ, 01 điện tho i di động màu đen, nhãn hiệu SamSung Dous, một số mảnh ghế nhựa màu vàng nâu (t i chốt A2); một số mảnh vỡ ấm chén (t i chốt B1). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th y Nguyên đã t m giữ 01 xe ô tô BKS 15C-280.62 do T sử d ng để đi đập phá tài sản, kiểm tra trong xe có 01 gậy cao su màu đen dài 52cm, hình tr tròn và 01 gậy nhựa màu đỏ trắng, dài 44,5cm, hình tr tròn.

T i Bản kết luận định giá tài sản ngày 13/02/2018, 04/4/2018 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự huyện Th y Nguyên kết luận: Trị giá công sửa chữa, khắc ph c xe mô tô nhãn hiệu Super Cup, BKS 15AF-045.64 c a ông Bùi Văn D là 490.000 đồng; trị giá các ô kính bị vỡ, phải thay mới, tấm kim lo i bị hư hỏng phải khắc ph c t i chốt A4 là 461.300 đồng; Trị giá các ô kính bị vỡ, phải thay mới t i chốt A3 là 590.020 đồng; Trị giá công khắc ph c, sửa chữa mũ bảo hiểm c a ông Bùi Đức Y là 80.000 đồng, trị giá chiếc ghế nhựa bị hư hỏng c a chị Nguyễn Thị H là 100.000 đồng, trị giá 01 điện tho i di động màu đen, nhãn hiệu SamSung Dous c a ông Đỗ Văn L là 600.000 đồng, trị giá các ô kính bị vỡ, phải thay mới c a chốt A2 là 623.520 đồng; Trị giá các ô kính bị vỡ, phải thay mới, tấm kim lo i bị hư hỏng phải khắc ph c t i chốt A5 là 621.670 đồng; Trị giá 01 bộ cốc chén bị vỡ t i chốt B1 là 100.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị hư hỏng là 3.666.510 đồng.

Ngày 18/4/2018, Lê Văn T đến cơ quan công an đầu thú. Ngày 20/4/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Th y Nguyên ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Văn K . T i cơ quan điều tra, Lê Văn T và Trần Văn K khai nhận toàn bộ hành vi c a mình như nội dung nêu trên.

T i bản Cáo tr ng số 83/CT-VKS ngày 14 tháng 8 năm 2018 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên truy tố Lê Văn T , Trần Văn K về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Lê Văn T theo điểm g Khoản 2 Điều 178 c a Bộ luật hình sự; Trần Văn K theo Khoản 1 Điều 178 c a Bộ luật hình sự.

T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Áp d ng điểm g Khoản 2 Điều 178; điểm b, h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử ph t Lê Văn T từ 30 đến 36 tháng tù. Áp d ng Khoản 1 Điều 178; điểm b, h, s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử ph t Trần Văn K từ 18 đến 24 tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

T i phiên tòa các bị cáo khai Cáo tr ng truy tố đúng với hành vi mà các bị cáo thực hiện. Do cho rằng công ty H không có nhiệm v bảo vệ, trách nhiệm bảo vệ là c a công ty A, t i công an xã Dương Quan, công ty c a bị cáo đã yêu cầu công ty H xuất trình căn cứ nhưng nhân viên c a công ty H không xuất trình được nên bị cáo đã làm hư hỏng tài sản c a công ty H. T i phiên tòa công ty H không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thường thiệt h i. Đ i diện c a Ngân hàng Thương m i Cổ phần Đ không có ý kiến gì về quá trình điều tra, truy tố, xét xử, trình tự th t c tố t ng và yêu cầu được trả ngay chiếc xe ô tô BKS 15C-280.62 cho Ngân hàng để đảm bảo thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan điều tra Công an huyện Th y Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th t c quy định c a Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố t ng không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Hành vi, quyết định tố t ng đã thực hiện đúng theo quy định c a Bộ luật tố t ng hình sự.

. T i phiên tòa bị cáo Lê Văn T , Trần Văn K khai cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố là đúng với hành vi mà các bị cáo thực hiện. Lời khai c a các bị can Lê Văn T , Trần Văn K phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai c a bị h i, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Ngày 06/02/2018, Lê Văn Tiệp có hành vi điều khiển xe ô tô BKS 15C-280.62 đâm vào xe mô tô BKS 15AF-045.64 ông Bùi Văn Dương, cùng Trần Văn K dùng tay, gậy, g ch, đá, ghế nhựa, mũ bảo hiểm đập phá các chốt bảo vệ c a công ty H làm các chốt bảo vệ bị hư hỏng, gây thiệt h i về tài sản c a công ty H, tài sản c a ông Bùi Văn D tài sản c a ông Đỗ Văn L , tài sản c a ông Bùi Đức Y , tài sản c a ông Hoàng Văn Ẩ , tài sản c a chị Nguyễn Thị H . Như vậy có đ căn cứ để xác định các bị cáo Lê Văn T , Trần Văn K đã đồng ph m tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Lê Văn T vi ph m điểm g Khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự, Trần Văn K vi ph m Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng c a hành vi ph m tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi ph m tội c a các bị cáo là nguy hiểm, xâm ph m đến tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt h i, ph m tội nhưng gây thiệt h i không lớn, t i cơ quan điều tra và t i phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b, h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo T có công với cách m ng, ông nội là liệt sỹ, bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ quy định t i Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Trần Văn K đã có tiền án, chưa được xóa án nay ph m tội là tái ph m quy định t i điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về phần hình ph t: Đây là v án đồng ph m, bị cáo T là người đề xuất, thực hành tích cực vì vậy hình ph t phải cao hơn bị cáo K . Căn cứ vào mức độ hành vi ph m tội c a các bị cáo, tài sản thiệt h i có giá trị không lớn, thiệt h i xảy ra đã được bồi thường đầy đ vì vậy có thể áp d ng mức hình ph t tù trên mức kh i điểm c a khung hình ph t tù là thỏa đáng. Khoản 5 Điều 178 c a Bộ luật hình sự, người ph m tội còn có thể bị ph t tiền, xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với các bị cáo.

. Về dân sự: Bị h i không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự, 01 gậy cao su màu đen dài 52cm, hình tr tròn; 01 gậy nhựa màu đỏ trắng, dài 44,5cm, hình tr tròn; 01 thanh gỗ dài 50cm, rộng 5cm, dày 1cm; 02 c c đá, 02 thanh kim lo i màu xám; một số mảnh ghế nhựa màu vàng nâu; một số mảnh vỡ kính bằng th y tinh t m giữ t i các chốt; một số mảnh vỡ ấm chén là vật chứng c a v án, không còn giá trị sử d ng cần tịch thu tiêu h y. Trả l i cho ông Bùi Đức Y 01 mũ bảo hiểm, kính chắn gió bằng nhựa c a mũ; trả l i ông Đỗ Văn L 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Sam sung Dous màu đen. Đối với điện tho i di động nhãn hiệu Nokia màu đen là c a Trần Văn K sẽ được trả l i cho bị cáo nhưng bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí vì vậy tiếp t c t m giữ để đảm bảo việc thi hành án. Chiếc xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu Ford Ranger, BKS 15C-280.62 không phải là tang vật c a v án vì vậy sẽ được trả l i cho ch s hữu. Công ty A khai chiếc xe ô tô này thuộc s hữu c a công ty, chỉ giao cho T đứng tên và sử d ng vào nhiệm v công việc, tuy nhiên giấy tờ đăng ký xe thể hiện ch s hữu là Lê Văn T . Mặt khác, giữa bị cáo và vợ là chị Nguyễn Thị N đã ký hợp đồng tín d ng với Ngân hàng Thương m i Cổ phần Đ và ký hợp đồng thế chấp xe ô tô, cam kết tài sản hình thành trong tương lai thuộc s hữu c a mình. T i phiên tòa, bị cáo đồng ý giao xe ô tô cho Ngân hàng Thương m i Cổ phần Đ để thanh toán nợ với ngân hàng. Tuy nhiên giao dịch giữa bị cáo với Ngân hàng Thương m i Cổ phần Đ là một giao dịch khác, là một v án dân sự khác, không liên quan đến v án hình sự này. Chị Nguyễn Thị N là người ký hợp đồng tín d ng, hợp đồng thế chấp vắng mặt t i phiên tòa, vì vậy giao chiếc xe ô tô l i cho ch s hữu là Lê Văn T để thực hiện hợp đồng tín d ng, hợp đồng thế chấp theo quy định pháp luật, thực hiện việc giao xe cho ngân hàng để xử lý nợ theo thỏa thuận c a các bên theo trình tự th t c tố t ng dân sự. Giữa công ty A và bị cáo Tiệp có thể giải quyết thành một v án dân sự riêng khi có yêu cầu. Giữa Ngân hàng Thương m i Cổ phần Đ và bị cáo T , chị Nguyễn Thị N giải quyết bằng một v án dân sự riêng khi các đương sự có yêu cầu, các bên có thể thương lượng thỏa thuận về việc giải quyết v án dân sự thực hiện việc thỏa thuận giao xe cho nhau theo quy định pháp luật.

. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

. Các Bị cáo, bị h i, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời h n quy định c a pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 178; điểm b, h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Văn T ph m tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; xử ph t bị cáo Lê Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ ngày 18 tháng 4 năm 2018 .

Căn cứ Khoản 1 Điều 178; điểm b, h, s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Văn K ph m tội Cố ý làm hư hỏng tài sản; xử ph t bị cáo Trần Văn K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ ngày 20 tháng 4 năm 2018.

Về xử lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự: Tịch thu tiêu h y 01 gậy cao su màu đen dài 52cm, hình tr tròn; 01 gậy nhựa màu đỏ trắng, dài 44,5cm, hình tr tròn; 01 thanh gỗ màu nâu dài 50cm, rộng 5cm, dày 01cm; 02 c c đá; 02 thanh kim lo i màu xám; một số mảnh ghế nhựa màu vàng nâu; một số mảnh vỡ kính bằng th y tinh t m giữ t i các chốt; một số mảnh vỡ ấm chén. Trả l i cho ông Bùi Đức Y 01 mũ bảo hiểm màu nâu, kính chắn gió bằng nhựa c a mũ; trả l i ông Đỗ Văn L 01 chiếc điện tho i di động nhãn hiệu Sam sung Dous màu đen. Tiếp t c t m giữ 01 điện tho i di động nhãn hiệu Nokia màu đen là c a Trần Văn K để đảm bảo thi hành án. Trả l i chiếc xe ô tô màu trắng, nhãn hiệu Ford Ranger, BKS 15C-280.62 cho Lê Văn T . (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 8 năm 2018 và phiếu nhập kho số NK2018/95 ngày 14 tháng 8 năm 2018 t i Chi c c thi hành án dân sự huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTTQH c a Ủy ban thường v Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn T, Trần Văn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị h i, người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị h i, người có quyền lợi liên quan vắng mặt t i phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ