vanban.org

Bản án 91/2018/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 22/06/2018 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Thu H - Lê Mạnh H"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2018/HNGĐ-PT
Ngày 22 - 6 - 2018
V/v “Tranh chấp về Hôn nhân
và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Ông Nguyễn Vũ Đông

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:Bà Đỗ Thúy Anh- cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Trịnh Thu Tân-Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 22 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72 /2018/TLPT- HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 về việc tranh chấp “ Hôn nhân và gia đình ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02 /2018/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 02 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trìbị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 61 /2018/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2018/ QĐ-HPT ngày 15/6/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thu Hương sinh 1979 Vắng mặt

Địa chỉ: 312 HH4B Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hoàng Mai , Hà nội Tạm trú: Tổ 10, Khu phố 2, Thị trấn Chơn Thành, Chơn Thanh, Bình Phước

Bị đơn: Anh Lê Mạnh Hùng, sinh 1977 Có mặt

Địa chỉ: Số 21, Tập Thể Công ty 56, Thanh Liệt, huyện Thanh Trì , Hà nội

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Công ty cổ phần vải địa kỹ thuật Hà Nội

Trụ sở: Số 18, Ngách 37, Ngõ 924, Nguyễn Khoái, phường Thanh Trì, Hoàng

Mai, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Chị Hoàng Thị Thu Hương – Giám đốc Công ty

2- Anh Hoàng Đức Thọ sinh 1977; Vắng mặt

3- Địa chỉ: A416 Chung cư sơn kỳ, phường Sơn kỳ, quận Tân Phú, TP Hồ

Chí Minh

Người kháng cáo: :Anh Lê Mạnh Hùng là Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Chị Hoàng Thị Thu Hương trình bày: Chị kết hôn với anh Hùng ngày 27/01/2011, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc cho đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, luôn xẩy ra va chạm anh Hùng thường xuyên đánh chị. Từ đầu năm 2017 cho đến nay anh chị sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn anh Hùng.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là Lê Nhật Minh sinh 29/4/2011 và Lê Châu Uyên sinh 28/01/2013. Hiện hai con đang ở với chị nay ly hôn chị xin được nuôi cả hai con chung không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu giải quyết.

Đối với chiếc xe Ô tô bán tải hiệu HUYNDAI, BKS 29D-050.63 là tài sản của Công ty cổ phần vải địa kỹ thuật Hà Nội không phải là tài sản chung vợ chồng.

Về công nợ: Vợ chồng chị có vay của anh Hoàng Đức Thọ 380.000.000 đồng anh Thọ chưa có yêu cầu nên chị không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn anh Lê Mạnh Hùng trình bày: Anh nhất trí với lời khai của chị Hương về quá trình kết hôn và chung sống. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn. Trong cuộc sống hàng ngày chị Hương có những cư xử không phù hợp nên anh cũng không còn tình cảm gì với chị Hương nữa. Tuy nhiên anh không đồng ý ly hôn vì các con anh còn quá nhỏ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của các con.

Về con chung: Có hai con chung như chị Hương trình bày là đúng các con của anh chị hiện đang ở với chị Hương. Nay nếu phải ly hôn anh xin được nuôi cả hai con chung không yêu cầu chị Hương cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh chị có góp 300.000.000 đồng để mua xe Ô tô tô bán tải hiệu HUYNDAI, BKS 29D-050.63 đứng tên đăng ký chủ sở hữu làCông ty cổ phần vải địa kỹ thuật Hà Nội. Số tiền mua xe vay của Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam. Do xe đứng tên Công ty nên anh cũng không có yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.

Về công nợ: Anh và chị Hương có ký giấy vay anh Thọ( là anh trai của chị Hương) 380.000.000 đồng. Nay anh yêu cầu mỗi người trả cho anh Thọ một nửa số tiền đã vay.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Anh Hoàng Đức Thọ trình bày: Ngày 05/5/2017 anh Hùng chị Hương có

vay của anh 380.000.000 đồng, hạn trả nợ là ngày 31/5/2018. Anh chưa có

yêu cầu anh Hùng chị Hương trả nợ trong vụ án này. Nếu sau này anh

Hùng chị Hương không trả nợ anh sẽ có yêu cầu bằng vụ án khác.

2- Công ty cổ phần vải địa kỹ thuật Hà Nội do chị Hoàng Thị Thu Hương

đại diện trình bày: Chị khảng định chiếc xe Ô Tô là tài sản của Công ty

không phải là tài sản chung vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết.

Tại bản án số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 26/ 4 /2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã xử và quyết định:

Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thu Hương được ly hôn anh Lê Mạnh Hùng.

Về con chung: Giao hai con chung là Lê Nhật Minh sinh 29/4/2011 và Lê Châu Uyên sinh 28/01/2013 cho chị Hoàng Thị Thu Hương trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chị Hương không yêu cầu nên không xét. Anh Hùng có quyền đi lại thăm hỏi chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không phải xét.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm anh Lê Mạnh Hùng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

Anh Hùng giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.Anh Hùng kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt anh mà không thông báo lịch xét xử cho anh là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Về nội dung bản án anh không đồng ý ly hôn.

Anh Hùng cho rằng vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn gì lớn. Anh vẫn còn tình cảm với chị Hương. Nhưng chị Hương đã đưa hai con anh về nhà ngoại ở tổ 10 khu phố 2, thị trấn Chơn Thành ở từ tháng 7/2017 cho đến nay anh không thể liên lạc với các con. Anh đề nghị tòa giải quyết cho vợ chồng anh đoàn tụ.

Về con chung: Hiện hai con anh đang ở với chị Hương nay nếu phải ly hôn anh xin nuôi cả hai con chung không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết .

Về công nợ: Đề nghị được phân định trách nhiệm đối với khoản nợ của anh Thọ.

Chị Hương vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt và có nguyện vọng đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Đại diện VKS có quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đều chấp hành đúng quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân và con

chung. Về công nợ đề nghị phân định mỗi người có trách nhiệm thanh toán ½ khoản nợ của anh Hoàng Đức Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự và kiểm sát viên; sau khi nghị án; Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Anh Lê Mạnh Hùng kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt anh mà không tống đạt hợp lệ cho anh là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Xét yêu cầu kháng cáo này của anh Hùng, HĐXX nhận thấy ngày 9/01/2018 tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử ấn định lịch xét xử vào hồi 14h ngày 26/01/2018 và đã tống đạt quyết định xét xử cho anh Hùng vào hồi 16h 30 ngày 9/01/2018. Ngày 23/01/2018 anh Hùng có đơn xin hoãn phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm đã hoãn phiên tòa ngày 26/01/2018 và ấn định lịch xét xử vào hồi 14h ngày 26/02/2018. Quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt cho anh Hùng bằng giấy báo phát của Bưu điện Hà Nội – Bưu cục Thanh trì báo phát thành công ngày 01/02/2018 ( BL số 140,141,142) tại phiên tòa anh Hùng vắng mặt tòa án đã xét xử vắng mặt anh Hùng là đã thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS. Do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Hùng về vấn đề này.

Về hôn nhân:Lê Mạnh Hùng kết hôn với chị Hoàng Thị Thu Hương ngày 27/01/2011, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc cho đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn.Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Tại Tòa án anh chị đều có lời khai xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Hương xin được ly hôn anh Hùng không đồng ý ly hôn với lý do vì các con anh còn nhỏ. Tại phiên tòa phúc thẩm anh Hùng khảng định anh vẫn còn tình cảm với chị Hương anh không mong muốn ly hôn. Đồng thời anh Hùng cũng xác nhận từ tháng 7/2017 cho đến nay anh và chị Hương sống ly thân nhau. Bản thân anh về ở cùng bố mẹ đẻ tại Thanh trì, chị Hương về ở cùng bố mẹ chị Hương ở Chơn Thành- Bình Phước. Như vậy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại nên bản án sơ thẩm đã xử cho anh chị ly hôn là có căn cứ. Do đó cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Hùng. Cần bác kháng cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm xử cho chị Hương được ly hôn anh Hùng.

Về con chung: Anh chị có hai con chung là Lê Nhật Minh sinh 29/4/2011 và Lê Châu Uyên sinh 28/01/2013. Anh Hùng chị Hương đều có nguyện vọng xin nuôi cả hai con chung. Xét thấy từ đầu năm 2017 cho đến nay anh chị đã sống ly thân, hai con của anh chị do chị Hương nuôi dưỡng. Hiện tại chị Hương đã chuyển cả ba mẹ con chị về sống tại thị trấn Chơn, huyện Chơn Thành, Tỉnh Bình Phước. Nay để ổn định cuộc sống của các cháu tránh sự sáo trộn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của các cháu Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cả hai con chung cho chị Hương nuôi là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Hùng. Bác kháng cáo của anh Hùng, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Về tài sản chung và công nợ: Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết nên cấp phúc thẩm cũng không xem xét giải quyết. Đối với khoản nợ của anh Hoàng Đức Thọ, tại phiên tòa anh Hùng yêu cầu được phân định. Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị tòa phân định trách nhiệm đối với khoản nợ trên cho anh Hùng chị Hương. Xét thấy tại cấp sơ thẩm anh Thọ không có yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết. Do đó Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở xem xét. Giành giải quyết sau khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Chị Hoàng Thị Thu Hương phải chịu 300.000 đồng án phí LH/ST, Anh Lê Mạnh Hùng phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1- Điều 308- BLTTDS;

Điều 56, 57, 81,82,83,84 – Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Không chấp nhậnyêu cầu kháng cáo của anh Lê Mạnh Hùng. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 02/2018/HNGĐ-ST ngày 26/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội và xử như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn củaChị Hoàng Thị Thu Hương .Chị Hoàng Thị Thu Hương được ly hôn anh Lê Mạnh Hùng .

Về con chung: Anh chị có hai con chung là Lê nhật Minh sinh 29/4/2011 và Lê Châu Uyên sinh 28/01/2013. Tiếp tục giao hai con chunglà Lê Nhật Minh sinh 29/4/2011 và Lê Châu Uyên sinh 28/01/2013 cho chị Hoàng Thị Thu Hương trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chị Hương không yêu cầu nên không xét. Anh Hùng có quyền đi lại thăm hỏi chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chungvà công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét. Giành giải quyết sau bằng bản án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí:: Chị Hoàng Thị Thu Hương phải chịu 300.000 đồng án phí LH/ST đã nộp tại BL số AA/2012/0895 ngày 24/7/2017 Chi cục THADS Thanh trì, Anh Lê Mạnh Hùng phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm đã nộp tại BL số AA/2012/08828 ngày 13/3/2018 Chi cục THADS Thanh Trì. Chị Hương, anh Hùng đã nộp đủ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 22/06/2018.

Cỡ chữ