vanban.org

Bản án 91/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/04/2017. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 91/2017/HSST
Ngày: 22/08/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đồng Thị Thanh Hương.

Ông Lê Văn Tú.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lã Hoàng Giáp- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Mai Việt Hùng- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 08 năm 2017, tại nhà Văn hóa phố Nhật Tân, phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2017/TL- HSST, ngày 20 tháng 07 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy H, sinh năm 1990, tại huyện S, tỉnh B; Nơi cư trú: Xóm N, xã K, huyện S, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Thành Ch và bà Nguyễn Thị Ng; Vợ Nguyễn Thị H, bị cáo có một con sinh năm 2016; Tiền án: Ngày 09/05/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 03/10/2015, tiền sự: Không. Bị cáo, bị tạm giữ từ ngày 05/04/2017 đến ngày 11/04/2017 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (Có mặt).

Người làm chứng: Anh Đặng Văn Ph, sinh năm 1987.

Trú tại: Phố S, phường Th, thành phố B, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Duy H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 05/04/2017, tại khu vực bến xe khách huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, bị cáo H cùng một người bạn mới quen tên là Th cùng nhau góp tiền mua ma túy (H góp 70.000đồng, Th góp 80.000đồng) sau đó, Th đi mua ma túy cả hai đã sử dụng một phần, còn một phần H xin để mang đi Hà Nội sử dụng đồng thời H còn nhờ Th mua hộ thêm 150.000đồng ma túy, sau khi Th mua hộ được ma túy H đem cất gói ma túy vào túi quần trước bên phải. H bắt xe đi Hà Nội đến khu vực cây xăng cầu non nước- phố 4, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình lúc đó khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo bị công an thành phố Ninh Bình kiểm tra hành chính bắt giữ và thu số ma túy của bị cáo.

Tại bản kết luận giám định số: 92/GĐMT-PC45-MT, ngày 07/04/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận "Chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M1 có khối lượng 0,0370gam, M2 có khối lượng 0,0718 gam, tổng là 0,1088gam. Các chất dạng cục màu trắng trong hai gói ký hiệu M1, M2, thu giữ của H đều là chất ma túy loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 100/CT- VKS ngày 18.07.2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy H ra trước Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 1 Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20-06-2017 của Quốc hội xử phạt Nguyễn Duy H từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Bị cáo Nguyễn Duy H khai và thừa nhận hành vi tàng trữ 0,1088 gam Heroine phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và biên bản, ngày 05 tháng 04 năm 2017, kết luận giám định cùng các chứng cứ khác đã được xem xét công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố là người có công với nước đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng năng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới do cố ý đây là tình tiết tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy tội danh, loại hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, cần phải xử phạt bị cáo loại, mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tại thời điểm xét xử, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, có lợi cho người phạm tội. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20-06-2017 của Quốc hội, Hội đồng xét xử áp dụng khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử lý đối với bị cáo. Phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho Bị cáo học tập, cải tạo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vỏ bao, bị cáo dùng gói ma túy trong gói niêm phong ban đầu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án có một người đàn ông tên Th đã mua ma túy cho bị cáo, bị cáo không rõ địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra để xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20-06-2017 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/04/2017.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao dùng gói ma túy, trong gói niêm phong ban đầu. Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 08 năm 2017, giữa Công an thành Phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Duy H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng.

Án xử sở thẩm công khai, Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Cỡ chữ