vanban.org

Bản án 908/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/07/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Đào P - Tran A"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
────────────
Bản án số: 908/2019/HNGĐ-ST!
Ngày: 30-7-2019
Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa:" Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"

Ông Nguyễn Thành Châu.

Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 117/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 3034/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2019; Giữa các đương sự:

-"Nguyên"đơn:"Ông Nguyễn!Đào!P, sinh năm 1966; địa chỉ: Số X đường D, Phường P, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

-"Bị"đơn:"Bà Tran!A, sinh năm 1976; Quốc tịch: Canada; địa chỉ: Canada.

(Các đương sự vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Tại"đơn"khởi"kiện"và"các"bản"tự"khai,"nguyên"đơn"ông"Nguyễn"Đào"P" trình"bày:"

Ông và bà Tran A quen biết nhau vào năm 2007 do bạn của ông sống tại Canada giới thiệu. Qua một thời gian tìm hiểu và liên lạc với nhau, ông và bà Tran A tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận vào sổ đăng ký kết hôn số X1 quyển số X2 ngày 16 tháng 7 năm 2008 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 7 năm 2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống tại Việt Nam khoảng 01 tháng thì bà Tran A trở về Canada, từ đó đến năm 2010 hai người vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại và mạng xã hội. Bà Tran A muốn thực hiện thủ tục để ông sang Canada định cư nhưng ông không đồng ý vì ông mong muốn tiếp tục làm việc và sống cùng con riêng của ông tại Việt Nam; vì lí do đó, vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2011 đến nay, ông và bà Tran A không còn liên hệ gì với nhau, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn bà Tran A. Về con chung: Ông và bà Tran A không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Ông và bà Tran A không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại"bản"tự"khai"ngày"20"tháng"5"năm"2019"(đã"được"Bộ"ngoại"giao"Việt" Nam"chứng"nhận/hợp"pháp"hóa"lãnh"sự"ngày"11"tháng"6"năm"2019),"bị"đơn"bà" Tran"A"trình"bày"như"sau:"" Bà và ông Nguyễn Đào P tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận vào sổ đăng ký kết hôn số X1 quyển số X2 ngày 16 tháng 7 năm 2008 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 7 năm 2008. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, nhưng khi hai người không còn chung sống thì mâu thuẫn phát sinh. Thời gian xa cách kéo dài, hai người không còn liên hệ với nhau nên tình cảm vợ chồng không còn, do đó, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Đào P để mỗi người ổn định cuộc sống riêng. Giữa bà và ông Nguyễn Đào P không có con chung, không có tài sản chung, nợ chung.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn cùng lời trình bày của các đương sự tại bản khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn trong vụ án là bà Tran A hiện đang cư trú tại Canada; nguyên đơn ông Nguyễn Đào P cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều đã có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt. Xét, yêu cầu và ý kiến của đương sự đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các bên đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn. Trong vụ án này, các đương sự đã tự giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án; bị đơn trong vụ án là bà Tran A hiện đang định cư ở nước ngoài nhưng đã có bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các đương sự cùng thừa nhận có mâu thuẫn và không còn thực tế chung sống trong thời gian dài, Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, không thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.

[2] Về nội dung:

Căn cứ bản tự khai của các đương sự và Giấy chứng nhận vào sổ đăng ký kết hôn số X1 quyển số X2 ngày 16 tháng 7 năm 2008 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 7 năm 2008, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập trên cơ sở tự nguyện, được pháp luật thừa nhận.

Theo trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Đào P và bị đơn bà Tran A cũng thừa nhận, giữa hai người đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2011 do không thể thống nhất với nhau về việc ông Nguyễn Đào P sang Canada định cư, chung sống cùng bà Tran A. Mâu thuẫn phát sinh mà vợ chồng sinh sống mỗi người một nơi nên tình cảm dần phai nhạt, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Ông Nguyễn Đào P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và bà Tran A cũng đồng ý.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa ông Nguyễn Đào P và bà Tran A chỉ hạnh phúc trong thời gian đầu, mâu thuẫn phát sinh do vợ chồng không thống nhất được phương án để duy trì cuộc sống chung. Cảnh sống mỗi người một nơi dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, thời gian sống ly thân kéo dài và không ai còn ý định hàn gắn, đoàn tụ gia đình thể hiện tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ông Nguyễn Đào P được ly hôn với bà Tran A.

Về con chung: Ông Nguyễn Đào P và bà Tran A cùng trình bày giữa hai người không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Đào P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

- Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các điều 19, 56, 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự. I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đào P: 1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đào P được ly hôn bà Tran A. Giấy chứng nhận vào sổ đăng ký kết hôn số X1 quyển số X2 ngày 16 tháng 7 năm 2008 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16 tháng 7 năm 2008 không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Các đương sự trình bày giữa hai người không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. II. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Đào P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đương sự đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/0015048 ngày 18 tháng 3 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm. III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Đào P có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn bà Tran A cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ