- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao Th - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Th.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 907/2022/HS-PT Ngày: 14 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thúy Cầu
Ông Chung Văn Kết
- Thư ký phiên tòa: Ông Thới Ngọc Bắc, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 787/2022/TLPT-HS ngày 27/10/2022 đối với bị cáo Nguyễn Cao Th do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2022/HSST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Cao Th, sinh năm 1958, ta ̣i tỉnh Hà Nam; HKTT: 2/2C Trần B, phường 8, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Cha: Nguyễn Văn T (đã chết); Mẹ: Trần Thị L (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T (đã chết) và có 01 con sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 06/3/2022 (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Cao Th: Luật sư Vũ Thanh H – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
(Những người tham gia tố tụng không có kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Cao Th và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1965) là vợ chồng cùng chung sống với nhau tại địa chỉ: 556/20/44 Nguyễn A, phường Nguyễn A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngày 05/10/2021, bà T phơi thuốc Nam ở nhà thì bị trượt ngã, rơi từ tầng 2 xuống đất nên được đưa đi cấp cứu và chữa trị tại nhiều bệnh viện do bị tổn thương não và bị liệt nằm một chỗ. Thời gian này, bà T được anh chị em ruột bên nhà bà T đưa về nhà chăm sóc. Sau khi chữa trị vật lý trị liệu, phục hồi chức năng bà T đã có thể ngồi và đi lại vệ sinh cá nhân được nhưng còn hơi yếu và chậm nên ngày 25/02/2022, Th đón bà T về nhà tại địa chỉ: 556/20/44 Nguyễn A, phường Nguyễn A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để tiếp tục điều trị. Sau khi bà T về thì Th biết tin bà T đã đưa cho ông Nguyễn Quốc T1 (sinh năm 1972, địa chỉ: 54 Cô B, phường 4, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, em trai ruột bà T) số tiền là 7.000.000.000 đồng (bảy tỷ đồng) tương đương với 56 cây vàng (56 cây vàng này do bố mẹ ruột của bà T và ông T1 đã chết để lại cho ông T1, sau đó ông T1 đã nhờ bà T giữ giúp). Th cho rằng số tiền bà T đưa cho ông T1 nhiều hơn giá trị số vàng ông T1 đã gửi và yêu cầu bà T đòi lại nhưng bà T không nghe nên hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 06/03/2022, khi Th đang điều trị covid và cách ly tại nhà với bà T, giữa hai vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn cãi nhau về tiền bạc. Lúc này, bà T đang nằm ngửa trên giường ở phòng ngủ của hai vợ chồng, Th liền nhặt cục đá chạm khắc hình con sư tử dưới gầm giường, đánh thẳng vào đầu bà T, máu từ đầu bà T bắn ra, bà T la lớn, hoảng quá Th tiếp tục dùng đá đánh liên tiếp nhiều nhát vào đầu và mặt bà T. Cục đá chạm khắc hình con sư tử gãy làm đôi. Thấy bà T chảy nhiều máu, Th sợ quá bỏ lên gác ngồi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Th xuống thấy bà T đã chết nên đã ra cơ quan công an tự thú.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 132/KL-KTHS-PY ngày 06/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu kết luận đối với tử thi bà Nguyễn Thị T:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Gãy xương mũi; bầm máu da quanh cánh mũi, môi trên, môi dưới; bầm dạ mặt trong môi dưới; vùng trán có hai vết rách da – dập da đầu có kích thước lần lượt từ trên xuống dưới là 4,5cm x 0,5cm và 1,4cm x 0,5cm; vết thương rách – dập da đầu vùng trán phải nhiều đường phức tạp không rõ hình dạng trên nền bầm máu da xung quanh tạo thành vùng vết thương có kích thước 12cm x 10cm; vết thương rách – dập da đầu vùng thái dương phải có kích thước 4cm x 1,5cm, xung quan vết thương này có nhiều vết thương rách da, kích thước khoảng 1,5 cm x 0,5cm. Vết thương rách - dập da đầu đỉnh phải trên nền bầm máu da đầu, kích thước 7,5cm x 5cm.
- Tụ máu dưới da đầu vùng trán – đỉnh hai bên. Tụ máu rải rác dưới da đầu vùng thái dương – chẩm phải. Tụ máu trong cơ thái dương hai bên. Nứt sọ dọc trán phải dài 4,3cm. Vỡ-lún sọ trán trái, kích thước 1,8cm x 1,3cm. Vùng sọ thái dương phải có hai vết thương vỡ - lún sọ có kích thước lần lượt từ trước ra sau là 1,6cm x 1,1cm và 0,9cm x 0,4cm. Màng cứng não sung huyết, có nơi xuất huyết. Não phù nặng. Tụ máu dưới màng cứng thùy thái dương - chẩm phải. Xuất huyết lan tỏa vùng đáy não –tiểu não hai bên.
2. Nguyên nhân chết: Nguyễn Thị T chết do chấn thương sọ não: vỡ - nứt sọ, phù não, tụ máu não, xuất huyết não.
3. Kết luận khác: Vật tác động gây nên các vết thương là do vật tày có góc cạnh diện tiếp xúc rộng gây nên, tác động trực tiếp vào vùng đầu cơ thể nạn nhân hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái; tác động trực tiếp vào vùng mặt cơ thể nạn nhân hướng từ trước ra sau.
Trong máu tử thi Nguyễn Thị T không tìm thấy Ethanol, không tìm thấy ma tuý. Xét nghiệm HIV âm tính.” (bút lục 32, 33)
Kết luận giám định số 1579/KL-KTHS ngày 10/5/2022 của Phân viện khoa học hình sự thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
“Chất màu nâu đỏ dính trên hai cục đá thu giữ dưới chân giường trong phòng ngủ (hiện trường vụ án) là máu người. Phân tích được một kiểm gen nữ giới hoàn chỉnh, trùng với AND của bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1965, nơi cư trú 556/20/44 Nguyễn A, phường Nguyễn A, thành phố V).
- Lưu kiểm gen này trong hồ sơ giám định tại phân viện khoa học hình sự thành phố Hồ Chí Minh
- Hoàn lại đối tượng giám định: 02 cục đá sau giám định.” (Bút lục 34)
Quá trinh điều tra, bi ̣ can Nguyễn Cao Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
̀ tội như đã nêu trên, phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. (Bút lục 12 đến 81).
* Phần Dân sự: Bố mẹ bà Nguyễn Thị T đã chết. Đa ̣i diê ̣n bị hại Nguyễn Cao T2 (con duy nhất của bị hại Nguyễn Thị T) không yêu cầu bi ̣ can Nguyễn Cao Th phải bồi thườ ng trách nhiệm dân sự. (Bút lục 78-81).
* Vật chứng chuyển Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chờ xử lý:
- 01 cục đá (chưa rõ chủng loại), có dấu vết gãy, kích thước (15cm x 20cm x 07cm), bề mặt cục đá có dính một số sợi (nghi là tóc) và chất màu nâu đỏ (nghi là máu)
- 01 cục đá (chưa rõ chủng loại), có dấu vết gãy, kích thước (11cm x 06cm x05cm) bề mặt cục đá có dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu). (Bút lục 61, 62)
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 65/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Th 18 (mười tám) năm tù, về tội: “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/9/2022 bị cáo Nguyễn Cao Th đã kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi:
Bị cáo Nguyễn Cao Th giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Mâu thuẫn giữa bị cáo và gia đình bên vợ của bị cáo đã từ lâu. Vào ngày xảy ra sự việc, tinh thần bị cáo bị dồn nén nên đã hành xử không suy nghĩ, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2. Phần tranh luận
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM phát biểu quan điểm:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Nguyễn Cao Th kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên hình phạt 18 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Phần đối đáp của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Cao Th: Không tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát quy kết đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn giữa bị cáo và phía gia đình bị hại trong thời gian dài, tinh thần bị cáo bị dồn nén nên mới xảy ra sự việc.
- Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Cao Th giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Cao Th đã thực hiện việc kháng cáo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 06/3/2022, khi bị cáo Nguyễn Cao Th đang điều trị Covid và cách ly cùng vợ là bà Nguyễn Thị T tại địa chỉ: 556/20/4 Nguyễn A, phường Nguyễn A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau về tiền bạc. Lúc này bà T đang nằm ngữa trên giường ở phòng ngủ của hai vợ chồng, bị cáo Th liền nhặt cục đá chạm khắc hình con sư tử dưới gầm giường đánh thẳng vào đầu bà T, máu từ đầu bà T bắn ra, bà T la lớn, hoảng loạn Th tiếp tục dùng đá đánh liên tiếp nhiều nhát vào đầu và mặt bà T đến khi bà T nằm im, cục đá chạm khắc hình con sư tử gãy làm đôi. Thấy mặt bà T chảy nhiều máu, Th sợ bỏ lên gác ngồi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Th xuống thấy bà T đã chết nên ra cơ quan Công an tự thú.
Bị cáo nhận thức được hành vi dùng đá đánh vào đầu của bị hại sẽ dẫn đền tử vong nhưng bị cáo vẫn thực hiện đến cùng, dẫn đên hậu quả làm người bị hại tử vong.
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực.
Với hành vi nêu tại mục [2.1], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Cao Th phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Cao Th
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), từ đó, xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Th 18 (mười tám) năm tù là có phần nhẹ so với tính chất, hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo thực hiện.
Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Cao Th thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo. Tuy nhiên, dù có áp dụng thêm tình tiết này cũng không đủ lượng khoan hồng cho bị cáo vì mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có phần nhẹ như Hội đồng xét xử đã nhận định. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cũng như đề nghị của người bào chữa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của là có căn cứ chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Cao Th phải chịu theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Cao Th. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2022/HS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao Th phạm tội “Giết người”.
Áp dụng vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Th 18 (mười tám) năm tù, về tội: “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2022.
2.Tiếp tục giam giữ bị cáo Nguyễn Cao Th để đảm bảo Thi hành án.
3.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
4.Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Cao Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Cục THADS tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Lưu: VP, HS (ĐTM) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |