vanban.org

Bản án 907/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Thi hành án dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 907/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24-8-2018
V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"toà: Bà Nguyễn Thị Hòa

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Ông Trần Nguyên Thao

2. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Loan – Thư ký Toà án nhân dân quận

Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức"tham gia phiên tòa:"

ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại phòng xử án của Toà án nhân dân quận

Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 250/2018/TLST-HNGĐ ngày 19

tháng 3 năm 2018 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra

xét xử số 281/2018/QĐXXST–HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 giữa các

đương sự:

1."Nguyên"đơn: Bà Trịnh Thị Thanh H, sinh năm: 1991

Địa chỉ: Số 1 Đường 2, Khu phố 3, phường H, quận T, Thành phố Hồ

Chí Minh.

2."Bị"đơn: Ông Mã Nam A, sinh năm: 1992

Địa chỉ: Số 1 Đường 2, Khu phố 3, phường H, quận T, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Thanh H vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin

vắng mặt); Bị đơn: Ông Mã Nam A vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin vắng

mặt có xác nhận của giám thị trại giam T ngày 25/5/2018).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 12 tháng 3 năm 2018, bản tự khai và các

biên bản làm việc khác, nguyên đơn Bà Trịnh Thị Thanh H trình bày:

Bà và Ông Mã Nam A chung sống với nhau từ tháng 4/2011, do tự

nguyện, có đăng ký kết hôn số 111 quyển sổ 02/2011 ngày 08/7/2011 do Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Cuộc sống chung trong những năm đầu khá hạnh phúc, từ cuối năm 2013 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do Ông Mã Nam A có quan hệ tình cảm bất chính với người phụ nữ khác, cũng vì vậy ông thường có những lời lẽ xúc phạm và đánh bà nhiều lần. Từ tháng 10/2014 đến nay bà và Ông Mã Nam A không còn sống chung với nhau. Nay bà xác định không còn tình cảm, không còn niềm tin đối với Ông Mã Nam A, bà cương quyết xin được ly hôn.

Về con chung: Bà và Ông Mã Nam A có một con chung tên Mã Hồng

Hỷ N, sinh ngày 03/5/2013. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Ông Mã Nam A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xin tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà tự khai không có.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/5/2018 Ông Mã Nam A xác nhận:

Ông và Bà Trịnh Thị Thanh H chung sống với nhau do tự nguyện, có

đăng kí kết hôn số 111 quyển sổ 02/2011 ngày 08/7/2011 do Ủy ban nhân dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Quá trình chung sống không có mâu thuẫn gì lớn. Năm 2015 ông bị bắt về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, bị xử phạt 7 năm 6 tháng tù giam, hiện đang đi chấp hành hình phạt tù. Nay bà H yêu cầu ly hôn tại tòa, ông cũng đồng ý xin được ly hôn.

Về con chung: Ông và Bà Trịnh Thị Thanh H có một con chung tên Mã

Hồng Hỷ N, sinh ngày 03/5/2013 ly hôn ông không đồng ý giao con cho bà H, xin được giao con cho cha mẹ ruột của ông nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Ông xin tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải

quyết.

Về nợ chung: Ông tự khai không có.

Đại diện Viện kiểm sát quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh trình

bày quan điểm về giải quyết vụ án:

- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức,

Thành phố Hồ Chí Minh đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa nguyên đơn Bà Trịnh Thị Thanh H và bị đơn Ông Mã

Nam A vắng mặt nhưng đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và

hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Bà Trịnh Thị Thanh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Trịnh Thị Thanh H xin ly hôn với Ông Mã Nam A, căn cứ khoản 1

Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông Mã Nam A hiện đang chấp

hành án phạt tù tại trại giam T nhưng nơi cư trú cuối cùng trước khi bị bắt và

hộ khẩu thường trú tại quận!T,!Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a!

khoản!1!Điều!35!và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án

thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn Bà Trịnh Thị Thanh H và bị đơn Ông Mã Nam A có đơn

xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung tranh chấp:

Xét thấy, Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A tự nguyện chung

sống với nhau từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo Giấy

chứng nhận kết hôn số 111 quyển sổ 02/2011 ngày 08/7/2011 do Ủy ban nhân

dân phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Căn cứ vào khoản 1

Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của Bà Trịnh Thị Thanh H và

Ông Mã Nam A được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo

vệ.

Về yêu cầu ly hôn:

Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Trịnh Thị Thanh H yêu cầu được ly

hôn với Ông Mã Nam A do ông A có quan hệ tình cảm với người phụ nữ

khác, nhiều lần đánh bà và có những lời lẽ xúc phạm bà. Từ tháng 10/2014

đến nay bà và ông A không sống chung với nhau. Qua đó, cho thấy cuộc

sống vợ chồng của bà H và ông A nhiều năm nay đã không còn hạnh phúc.

Mặt khác tại phiên tòa ông A vắng mặt nhưng trong biên bản lấy lời khai

ngày 25/5/2018 ông đồng ý xin ly hôn với bà H. Xét sự thỏa thuận việc ly

hôn của các đương sự là tự nguyện và phù hợp pháp luật nghĩ nên chấp nhận.

Về con chung: Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A cùng xác nhận

bà Hvà ông A có một con chung tên Mã Hồng Hỷ N, sinh ngày 03/5/2013. Ly

hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con. Ông Mã Nam A không đồng ý giao con cho bà H nuôi dưỡng, ông xin được giao con cho cha mẹ ruột của ông nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà H, lời xác nhận của

ông A trong biên bản lấy lời khai ngày 25/5/2018 và theo phúc đáp xác minh tình trạng hôn nhân và gia đình số 666/LĐTB ngày 21/6/2018 của Phòng lao động Thương binh và Xã hội quận Thủ Đức thì “Từ"tháng"3/2015"đến"nay"Ông" Mã"Nam"A"đang"chịu"án"phạt"tù,"thời"hạn"7"năm"6"tháng,"không"có"mặt"tại"địa" phương."Bà"H"đang"là"người"trực"tiếp"nuôi"dưỡng"trẻ"Mã"Hồng"Hỷ"N"và"sống" tại"nhà"cha"mẹ"ruột"của"bà"H” Qua đó, thấy rằng từ khi sinh ra cho đến ngày Tòa án xét xử trẻ Mã Hồng Hỷ N vẫn do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Mặc dù thời gian qua ông A không có nhà nhưng bà H vẫn nuôi con bình thường. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con vị thành niên là nghĩa vụ đương nhiên của cha mẹ. Bà H có khả năng lao động, có yêu cầu được nuôi con, không bị hạn chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên nên không có cơ sở giao trẻ Mã Hồng Hỷ N cho cha mẹ ruột ông A(là ông bà nội của trẻ) nuôi dưỡng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Bà Trịnh Thị Thanh H về việc xin nuôi con tên Mã Hồng Hỷ N, ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A cùng xin tự

thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên tòa không xem xét.

Về nợ chung: Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A cùng tự khai

không có nên tòa không xem xét.

Về Án phí: Bà Trịnh Thị Thanh H có yêu cầu ly hôn nên phải chịu án

phí dân sự sơ thẩm. Vì"các"lẽ"trên;"

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1

Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 9; khoản 1 điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung

năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A

thuận tình ly hôn.

Về con chung: Giao con chung tên Mã Hồng Hỷ N, sinh ngày 03/5/2013

cho Bà Trịnh Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo

dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu Ông Mã Nam A

cấp dưỡng nuôi con.

Quyền và nghĩa vụ của Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A về

việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung được thực hiện

theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A cùng xin tự

thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên tòa không xem xét.

Về nợ chung: Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A tự khai không

có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên tòa không xem xét.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng),

Bà Trịnh Thị Thanh H phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án

phí bà H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số

AA/2017/0038437 do Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố

Hồ Chí Minh lập ngày 19/3/2018. Bà Trịnh Thị Thanh H đã nộp đủ tiền án phí.

“Trường"hợp"bản"án,"quyết"định"được"thi"hành"theo"quy"định"tại"Điều"2"

Luật" thi" hành" án" dân" sự" thì" người" được" thi" hành" án" dân" sự," người" phải" thi"

hành"án"dân"sự"có"quyền"thỏa"thuận"thi"hành"án,"quyền"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"

nguyện"thi"hành"án"hoặc"bị"cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"Điều"

6,"7"và"9"Luật"thi"hành"án"dân"sự;"thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"

quy"định"tại"Điều"30"Luật"thi"hành"án"dân"sự”.

3. Quyền kháng cáo:

Bà Trịnh Thị Thanh H và Ông Mã Nam A được quyền kháng cáo trong

hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ