- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Văn Tấn P - Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Văn Tấn P được ly hôn bà Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 906/2021/HNGĐ-ST Ngày 02-7-2021 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai;
2. Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2020/TLST-HNGĐ ngày 31tháng 3 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 2146/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 6117/2021/QĐ-ST ngày 02 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Văn Tấn P, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Đường N, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Đường D, phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 18/3/2020 và lời khai của nguyên đơn – ông Văn Tấn P thì:
Ông và bà Nguyễn Thị T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 155 ngày 18/11/2018. Sau khi kết hôn, Ông và bà Nguyễn Thị T chung sống tại Việt Nam đến tháng 12/2019, bà Nguyễn Thị T trở về Hoa Kỳ sinh sống cho đến nay. Trong thời gian chung sống, giữa Ông và bà Nguyễn Thị Thu phát S mâu thuẫn do quan hệ giữa bà Nguyễn Thị T với gia đình Ông không tốt, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ông nhận thấy mâu thuẫn giữa Ông và bà Nguyễn Thị T ngày càng trầm trọng; mỗi người ở mỗi nước khác nhau nên không thể hàn gắn; tình cảm vợ chồng không còn; không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; không sống chung với nhau; mục đích hôn nhân không đạt được nên Ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho Ông được ly hôn bà Nguyễn Thị T. Ông và bà Nguyễn Thị T không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con, tài sản chung, nợ chung. Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Ông.
Tòa án đã ủy thác tư pháp cho Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ tống đạt thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho bị đơn – bà Nguyễn Thị T là công dân Việt Nam cư trú tại Hoa Kỳ theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn – bà Nguyễn Thị T không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 37; Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 155 ngày 18/11/2018 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì quan hệ hôn nhân giữa ông Văn Tấn P và bà Nguyễn Thị T là hợp pháp. Xét thấy, ông Văn Tấn P và bà Nguyễn Thị T không chung sống trong thời gian dài, không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được; cả hai sống ở hai nước khác nhau nên không có khả năng hàn gắn. Tòa án đã ủy thác tư pháp để tống đạt, thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho bà Nguyễn Thị T theo đúng quy định pháp luật. Do đó, việc ông P xin ly hôn là có căn cứ, tự nguyện, không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận. Căn cứ Khoản 1, Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Văn Tấn P; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Ông P phải chịu theo quy định pháp luật là 300.000 đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ông Văn Tấn P khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị T đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điểm a, Khoản 2, Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Ông Văn Tấn P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên căn cứ Khoản 2, Điều 227; Điều 228; Khoản 5, Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Văn Tấn P và bà Nguyễn Thị T.
Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 155 ngày 18/11/2018 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì quan hệ hôn nhân giữa ông Văn Tấn P và bà Nguyễn Thị T là hợp pháp. Từ tháng 12/2019 đến nay, vợ chồng ông Văn Tấn P và bà Nguyễn Thị T không chung sống; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của ông Văn Tấn P có căn cứ để chấp nhận.
Về việc nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Ông Văn Tấn P trình bày Ông và bà Nguyễn Thị T không có con chung, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Đ a, Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì do ông Văn Tấn P khởi kiện yêu cầu ly hôn nên ông Văn Tấn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 37; Khoản 2, Điều 38; Khoản 4, Điều 147; Khoản 1, Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 19; Khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điểm a, Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về hôn nhân: Ông Văn Tấn P được ly hôn bà Nguyễn Thị T.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Văn Tấn P phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0045914 ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Ông Văn Tấn P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày đối với ông Văn Tấn P và 01 (một) tháng đối với bà Nguyễn Thị T kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; - Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự (02); - Ủy ban nhân dânquận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT (TM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Minh |