vanban.org

Bản án 905/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Ngọc C đối với ông Nguyễn Việt T1.

Bà Phan Thị Ngọc C được ly hôn với ông Nguyễn Việt T1. Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2010, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã N, thị xã T, tỉnh T cấp ngày 20 tháng 12 năm 2010 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phan Thị Ngọc C yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Việt T1"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Ngọc C đối với ông Nguyễn Việt T1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 905/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 9 - 2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP.HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hoàng Liễu

2. Ông Lại Hữu Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 356/2023/TLST–HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 524/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 439/2023/QĐST–HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc C, sinh năm 1979

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện B, Thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Việt T1, sinh năm 1976

Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện B, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc C trình bày:

Bà Phan Thị Ngọc C và ông Nguyễn Việt T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân năm 2010, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, thị xã T, tỉnh T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2010, quyển số 01/2010 ngày 20 tháng 12 năm 2010. Thời gian đầu bà C và ông T1 chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T1 không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con; ông T1 còn thường xuyên nhậu nhẹt, có lời lẽ xúc phạm mẹ của bà C. Bà C có khuyên nhủ nhiều lần, nhưng ông T1 vẫn không thay đổi nên vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và ly thân từ tháng 6/2022. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không hàn gắn được nên bà C yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà C được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Bà C và ông T1 chung sống với nhau có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Việt Hoàng T2, sinh ngày 06/11/2011, giới tính nam và Nguyễn Việt Hoàng T3, sinh ngày 09/12/2020, giới tính nam. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà C xác nhận bà C và ông T1 không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà C xác nhận bà C và ông T1 không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Việt T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông T1 vẫn vắng mặt, không rõ lý do; ông T1 cũng không cung cấp cho Tòa án văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc C nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc C vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Việt T1; yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con; và xác định không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Bị đơn ông Nguyễn Việt T1 vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.

Về nội dung:

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Ngọc C đối với ông Nguyễn Việt T1. Bà Phan Thị Ngọc C được ly hôn với ông Nguyễn Việt T1.

- Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Việt Hoàng T2, sinh ngày 06/11/2011, giới tính nam và trẻ Nguyễn Việt Hoàng T3, sinh ngày 09/12/2020, giới tính nam cho bà Phan Thị Ngọc C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Việt T1.

- Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc C yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Việt T1. Đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn cư trú tại huyện Bình Chánh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Nguyễn Việt T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1.

. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2010, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã N, thị xã T, tỉnh T cấp ngày 20/12/2010 thì hôn nhân giữa bà Phan Thị Ngọc C với ông Nguyễn Việt T1 là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo lời bà C trình bày thì bà C và ông T1 phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020, nguyên nhân là do ông T1 thường xuyên ăn nhậu, không có trách nhiệm với gia đình, không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con. Bà C đã khuyên nhủ nhiều lần, nhưng ông T1 vẫn không thay đổi nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2022. Nay bà C không còn tình cảm với ông T1, hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà C yêu cầu Tòa án cho bà C được ly hôn với ông T1.

Đối với ông Nguyễn Việt T1, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của bà C, chứng tỏ ông T1 không có thiện chí đoàn tụ.

Mặt khác, căn cứ kết quả xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông T1 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, Thành phố H thì Ủy ban nhân dân xã không rõ mâu thuẫn vợ chồng giữa bà C và ông T1.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc bà C xin ly hôn với ông T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Bà C xác định bà C và ông T1 có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Việt Hoàng T2, sinh ngày 06/11/2011, giới tính nam và Nguyễn Việt Hoàng T3, sinh ngày 09/12/2020, giới tính nam. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 (hai) con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ T3 hiện còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của mẹ; trẻ T2 có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với bà C sau khi cha mẹ ly hôn. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con chung cần giao trẻ T2 và trẻ T3 cho bà C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà C không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

. Về tài sản chung: Bà C trình bày bà C và ông T1 không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.

. Về nợ chung: Bà C trình bày bà C và ông T1 không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.

. Về án phí: Bà Phan Thị Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Ngọc C đối với ông Nguyễn Việt T1.

Bà Phan Thị Ngọc C được ly hôn với ông Nguyễn Việt T1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 153/2010, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã N, thị xã T, tỉnh T cấp ngày 20 tháng 12 năm 2010 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Việt Hoàng T2, sinh ngày 06/11/2011, giới tính nam và Nguyễn Việt Hoàng T3, sinh ngày 09/12/2020, giới tính nam cho bà Phan Thị Ngọc C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà C không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Người trực tiếp nuôi con chung có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi người không trực tiếp nuôi con đến thăm nom, chăm sóc con chung. Không ai có quyền cản trở quyền thăm nom con chung.

Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con khi cần thiết đôi bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà Phan Thị Ngọc C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Phan Thị Ngọc C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra để giải quyết.

5. Về án phí: Bà Phan Thị Ngọc C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0043027 ngày 30/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ