- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Kim A và anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 903/2023/ HNGĐ-ST Ngày 11-9-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Đông.
2. Ông Nguyễn Tấn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 589/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Kim A, nơi cư trú: Tổ X, khu phố Y, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, nơi cư trú: Tổ X, khu phố Y, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 6 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Kim A trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q vào ngày 27-10-2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T không quan tâm đến gia đình, vợ con, có quan hệ bất chính với người đàn bà khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, nên chị xin được ly hôn anh T.
Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Lê Quốc T (sinh ngày 02-02-2014) và Nguyễn Lê Quỳnh Th (sinh ngày 06-12-2018), sức khỏe của các con bình thường, đang ở với mẹ. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; vợ chồng chị không có khoản nợ chung nào.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập, thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa và cũng không gửi văn bản ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.
* Tại bản khai đề ngày 27 tháng 6 năm 2023, cháu Nguyễn Lê Quốc T trình bày: Cha mẹ của cháu là Nguyễn Văn T và Lê Kim A. Hiện nay, cháu đang sống chung với mẹ, sức khỏe bình thường. Nếu cha mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu muốn được ở với mẹ.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Kim A được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Quốc T (sinh ngày 02-02-2014) và cháu Nguyễn Lê Quỳnh Th (sinh ngày 06-12-2018) cho chị Lê Kim A trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn chị Lê Kim A yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung với bị đơn anh Nguyễn Văn T. Tại phiên tòa, chị A và anh T đều vắng mặt; chị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án hôn nhân gia đình có quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và phiên tòa vẫn được tiến hành theo quy định.
Chị Lê Kim A và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q vào ngày 27-10-2015, nên hôn nhân giữa chị A và anh T là hôn nhân hợp pháp. Theo chị A trình bày, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ bất chính với người đàn bà khác, không quan tâm đến gia đình, vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Chị A đã có lần gửi đơn ly hôn ra Tòa vào năm 2022 nhưng vì muốn níu kéo, hàn gắn, tạo cơ hội cho anh T nên chị A đã rút đơn. Tuy nhiên, tình trạng mâu thuẫn đó vẫn tiếp tục diễn ra và kéo dài cho đến nay. Chị A và anh T đã sống ly thân từ năm 2021, tình cảm vợ chồng không còn. Tòa án đã nhiều lần thông báo, triệu tập anh T đến Tòa làm việc với mong muốn hòa giải để hàn gắn mối quan hệ hôn nhân vốn đã rạn nứt nhưng anh T cố tình không đến Tòa, có ý bỏ mặc cho hôn nhân của mình. Chính sự vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng nêu trên đã làm cho hôn nhân giữa chị A và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giải quyết cho chị A được ly hôn anh T.
Chị Lê Kim A và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung là Nguyễn Lê Quốc T (sinh ngày 02-02-2014) và Nguyễn Lê Quỳnh Th (sinh ngày 06-12-2018), sức khỏe bình thường, đang ở với mẹ. Chị A có yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, nguyện vọng của cháu Thi cũng mong muốn được ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Xét hoàn cảnh, điều kiện thực tế của các bên, các con chung đã ở với mẹ từ lâu nay, tình cảm mẹ con gắn bó, trên cơ sở bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, đồng thời căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị A, giao 02 con chung cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị A không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị A phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Kim A và anh Nguyễn Văn T.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cháu Nguyễn Lê Quốc T (sinh ngày 02-02-2014) và cháu Nguyễn Lê Quỳnh Th (sinh ngày 06-12-2018), đang ở với mẹ, cho chị Lê Kim A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
2.2. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Kim A không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Kim A phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003933 ngày 16 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn; - UBND P. Trần Quang Diệu, Tp. Quy Nhơn; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |