vanban.org

Bản án 902/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc bị đơn bà Trần Thị Ngọc H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V tổng cộng số tiền là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu không trăm bảy mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 –
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 902/2025/DS-ST
Ngày: 30/9/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đúng.

2. Bà Phan Thị Dòn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp phải tham gia.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 60/2025/TLST-DS ngày 24/7/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 337/2025/QĐXXST-DS ngày 15/8/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 350/2025/QĐST-DS ngày 09/9/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V; Địa chỉ: 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đình Châu; Địa chỉ: Tầng 1, Số 96 Cao Thắng, phường Bàn Cờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1990; Địa chỉ: F7/25A tổ 7, ấp 6, xã Lê Minh X, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí M. (nay là: F7/25A ấp 23, xã Bình L, Thành phố Hồ Chí M).

(Ông Phạm Đình Châu có mặt, bà Trần Thị Ngọc H vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được - nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V có người đại diện hợp pháp là ông Phạm Đình Châu trình bày:

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số: LN2308240093800 (hay còn gọi là hợp đồng số: LD2323701418) ký ngày 25/08/2023 xác lập giữa bên cho vay là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V và bên vay là bà Trần Thị Ngọc H. Số tiền vay là: 90.000.000 (chín mươi triệu đồng); Lãi suất cho vay trong hạn: 23%/năm; Mục đích sử dụng vốn vay: phục vụ nhu cầu đời sống.

Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay nêu trên, bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V kể từ ngày 13/12/2023. Tạm tính đến ngày 15/08/2025. Tổng cộng 133.955.550 đồng (một trăm ba mươi ba triệu chín năm mươi lăm nghìn năm trăm lăm mươi đồng); Trong đó, nợ gốc là 84.134.753 đồng, nợ lãi là 53.590.265 đồng.

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử số: 367-P-4962731, ký ngày 31/8/2023. Thẻ tín dụng đề nghị: 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu đồng), lãi suất cho vay trong hạn: 47,88%/năm; mục đích sử dụng vốn vay: phục vụ nhu cầu đời sống. Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay nêu trên, bà đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V kể từ ngày 13/12/2023. Dư nợ tạm tính đến ngày 15/08/2025. Tổng cộng 136.629.030 đồng (một trăm ba mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn không trăm ba mươi đồng); Trong đó, nợ gốc là 64.942.972 đồng, nợ lãi là 71.686.058 đồng.

Mặc dù, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đã rất nhiều lần liên hệ và làm việc yêu cầu bà Trần Thị Ngọc H thanh toán các khoản nợ nêu trên, nhưng đến nay bà vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V.

Nay Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V kính đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc bà Trần Thị Ngọc H phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi quá hạn theo các Hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm nêu trên. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 30/09/2025 là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng, nợ lãi là 129.872.581 đồng.

Ngoài ra, bà Trần Thị Ngọc H phải tiếp tục thanh toán lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong các đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 01/10/2025, cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V.

Bị đơn bà Trần Thị Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc H, bà Trần Thị Ngọc H có nơi cư trú tại: F7/25A ấp 23, xã Bình Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn bà Trần Thị Ngọc H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị Ngọc H theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thời hiệu khởi kiện của vụ án: Do không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu, căn cứ quy định tại Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét về thời hiệu đối với vụ kiện này.

Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch dân sự của các bên đương sự đang thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

Xét thấy các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp mà bị đơn không có phản đối do đó căn cứ theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì nguyên đơn không cần phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì: đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đầy đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó. Bà Trần Thị Ngọc H vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên bà Trần Thị Ngọc H từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xét xử vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo nội dung hợp đồng mà phía nguyên đơn cung cấp và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Đình Châu thì ngày 25/8/2023, bà Trần Thị Ngọc H có ký với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số: LN2308240093800 (hay còn gọi là hợp đồng số: LD2323701418), hạn mức tín dụng là 90.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 23%/năm; ngày 31/8/2023, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử số: 367-P-4962731, hạn mức tín dụng là 65.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất vay trong hạn là: 47,88%/năm. Như vậy, nội dung hợp đồng mà các bên xác lập thể hiện sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và không trái quy định pháp luật nên có hiệu lực, phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 463 của Bộ Luật dân sự năm 2015.

Mặc dù phía Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Trần Thị Ngọc H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Hà vi phạm nghĩa vụ thanh toán (tại Mục IV của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử) nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn vào ngày 13/12/2023.

Tính đến ngày 30/9/2025, bà Trần Thị Ngọc H còn nợ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V tổng số tiền là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng, nợ lãi là 129.872.581 đồng.

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số: LN2308240093800 (hay còn gọi là hợp đồng số: LD2323701418) ký ngày 25/08/2023, số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc: 84.134.753 đồng với lãi suất quá hạn là: 23%/năm, từ ngày 13/12/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là: 84.134.753 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử số: 367-P-4962731, ký ngày 31/8/2023, số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc: 64.942.972 đồng với lãi suất quá hạn là: 2.16%/tháng(1.44%/tháng x 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 64.942.972 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Nay Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đề nghị Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc H:

Buộc Bà Trần Thị Ngọc H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2025 là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng, nợ lãi là 129.872.581 đồng.

Bà Trần Thị Ngọc H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị đơn bà Trần Thị Ngọc H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án thông báo cho bà Trần Thị Ngọc H biết nhưng đến tại phiên tòa hôm nay bà Trần Thị Ngọc H không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Căn cứ vào Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử số: LN2308240093800 (hay còn gọi là hợp đồng số: LD2323701418) ký ngày 25/08/2023 của bà Trần Thị Ngọc H ký với nội dung yêu cầu Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V cho vay số tiền: 90.000.000 đồng. Từ ngày ký hợp đồng, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đã giải ngân cho bà Trần Thị Ngọc H số tiền 90.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, nhiều lần Ngân hàng yêu cầu bà Trần Thị Ngọc H thanh toán nợ nhưng bà Trần Thị Ngọc H không thực hiện, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Căn cứ Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và dịch vụ ngân hàng điện tử số: 367-P-4962731, ký ngày 31/8/2023 phát hành thẻ với hạn mức tín dụng là 65.000.000 đồng. Từ giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đã cấp thẻ tín dụng cho bà Trần Thị Ngọc H với hạn mức tín dụng là 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu). Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, nhiều lần Ngân hàng yêu cầu bà Trần Thị Ngọc H thanh toán nợ nhưng bà Trần Thị Ngọc H không thực hiện, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Căn cứ vào các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ ký giữa bà Trần Thị Ngọc H với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V và căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91 và Điều 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đối chiếu quy định như trên thì yêu cầu của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V buộc bà Trần Thị Ngọc H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2025 là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng, nợ lãi là 129.872.581 đồng. Đồng thời, buộc bà Trần Thị Ngọc H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng, là có căn cứ, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Trần Thị Ngọc H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2025 là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng, nợ lãi là 129.872.581 đồng.

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 có quy định “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Bà Trần Thị Ngọc H tiếp tục chịu lãi phát sinh sau khi xét xử là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 13.947.515 đồng (mười ba triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm mười lăm đồng); nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117, Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bị đơn bà Trần Thị Ngọc H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V tổng cộng số tiền là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi là 129.872.581 đồng (một trăm hai mươi chín triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm tám mươi mốt đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/10/2025), bà Trần Thị Ngọc H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn bà Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 13.947.515 đồng (mười ba triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm mười lăm đồng).

- Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền tạm ứng án phí là: 5.815.014 đồng (năm triệu tám trăm mười lăm nghìn không trăm mười bốn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003522 ngày 15/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;

- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;

- VKSNDKV 10 – Thành phố Hồ Chí Minh;

- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Lê Văn Cơ 

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút ngày 30/9/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Đúng

2. Bà Phan Thị Dòn

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số: 60/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V; Địa chỉ: 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí Dũng – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đình Châu; Địa chỉ: Tầng 1, Số 96 Cao Thắng, phường Bàn Cờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1990; Địa chỉ: F7/25A tổ 7, ấp 6, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (nay là: F7/25A ấp 23, xã Bình Lợi, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ vào taøi lieäu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định cuûa pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117, Điều 463; Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014);

Căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

2. Buộc bị đơn bà Trần Thị Ngọc H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V tổng cộng số tiền là: 278.950.306 đồng (hai trăm bảy mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn ba trăm lẻ sáu đồng); trong đó, nợ gốc là: 149.077.725 đồng (một trăm bốn mươi chín triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng), nợ lãi là 129.872.581 đồng (một trăm hai mươi chín triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm tám mươi mốt đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01/10/2025), bà Trần Thị Ngọc H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn bà Trần Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 13.947.515 đồng (mười ba triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm mười lăm đồng).

- Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh V số tiền tạm ứng án phí là: 5.815.014 đồng (năm triệu tám trăm mười lăm nghìn không trăm mười bốn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003522 ngày 15/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Biểu quyết 3/3 trên từng vấn đề

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút cùng ngày

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNGXÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Cơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ