vanban.org

Bản án 901/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/06/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

nhân và gia đình năm 2014; ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 901/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.

2. Ông Nguyễn Thành Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2022/TLST-HNGĐ ngày 01

tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

2320/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Quỳnh H, sinh năm 1977.

Địa chỉ: 53 đường A, khu phố C, phường P, Quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh.

- Bị đơn: Ông Ta, Tri N (Tạ Trí N), sinh năm 1968.

Địa chỉ: 20602 X., Cypress, Texas 77433, USA.

Các đương sự đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/01/2022 và những lời khai trong quá trình tố

tụng, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Quỳnh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) kết hôn trên cơ sở tự

nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 160 ngày 23/12/2019. Sau khi kết

hôn, thời gian đầu bà và ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) sống hạnh phúc, về sau phát

sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống hàng ngày. Năm 2020, ông

Ta, Tri N (Tạ Trí N) trở về Mỹ sinh sống và làm việc, còn bà vẫn ở lại Việt Nam.

Trong khoảng thời gian này, bà và ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) thỉnh thoảng có liên

lạc để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.

Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên tình cảm vợ chồng

không còn, mâu thuẫn không giải quyết được, khả năng đoàn tụ lại không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) ổn định cuộc sống.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại Bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự tại Tổng Lãnh sự quán nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hiu-xtơn, Texas, Hoa Kỳ ngày 12/5/2022, bị đơn là ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) xác nhận lời trình bày của bà Nguyễn Thị Quỳnh H về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà H xin ly hôn, ông đồng ý được ly hôn với bà H. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử

vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy bà Nguyễn Thị

Quỳnh H và ông ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn hiện cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào

khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Quỳnh H được ly hôn ông Ta, Tri N (Tạ

Trí N), Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà H và ông Ta, Tri N (Tạ Trí N), thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà H và ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà H và ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà

Nguyễn Thị Quỳnh H và ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) khai không có.

Án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Quỳnh H phải chịu theo

quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh H và ông Ta, Tri N (Tạ Trí

N) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều

227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,

quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Quỳnh H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh H được ly hôn ông Ta, Tri N

(Tạ Trí N).

Giấy chứng nhận kết hôn số 49 do Ủy ban nhân dân Quận B, Thành phố Hồ

Chí Minh cấp ngày 23/12/2019 cho bà Nguyễn Thị Quỳnh H và ông Ta, Tri N (Tạ

Trí N) không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị Quỳnh H

chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà H đã nộp tạm ứng án phí

theo biên lai thu số AA/2021/0001796 ngày 22/02/2022 của Cục Thi hành án dân

sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bà Nguyễn Thị Quỳnh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Ta, Tri N (Tạ Trí N) được quyền kháng cáo

trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được

quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ