vanban.org

Bản án 900/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Mỹ H được ly hôn với ông Đỗ Hoàng V. Giấy chứng nhận kết hôn số 17 do Ủy ban nhân dân Phường 03, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 10/5/2018 cho bà Trương Thị Mỹ H và ông Đỗ Hoàng V hết hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn giữa bà H và ông V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 900/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-10-2022
V/v ly hôn giữa bà H và ông V

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nghiêm Xuân Hoàng

2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2022, tại Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 577/2022/TLST-HNGĐ ngày 29/7/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/9/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2022/QĐ-HPT ngày 14/10/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ H

(Có đơn xin vắng mặt)

HKTT: Căn hộ *** (CC 4) khu TĐC phường Hương Sơ, Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Địa chỉ: *** ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Đỗ Hoàng V

(Vắng mặt)

Địa chỉ: *** Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2022, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ H trình bày:

- Về hôn nhân: Sau 10 năm chung sống với nhau, bà Trương Thị Mỹ H và ông Đỗ Hoàng V đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 10/5/2018 do Ủy ban nhân dân Phường 03, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh cấp. Chúng tôi chỉ kết hôn chứ không tổ chức lễ cưới. Tuy nhiên một thời gian ngắn sau khi đăng ký kết hôn, mâu thuẫn giữa hai bên bắt đầu nảy sinh và càng ngày càng phát sinh nhiều căng thẳng, không hòa hợp được. Bà H đã chủ động nói chuyện với ông V nhiều lần để tìm cách khắc phục tình hình, nhưng không thể hòa giải hay hàn gắn được. Cuộc sống giữa hai bên rất nặng nề. Các bên đã ly thân từ 02 năm nay, không liên lạc và không quan tâm đến đời sống của đối phương. Vì vậy, bà H yêu cầu ly hôn với ông V để chấm dứt quan hệ hôn nhân.

- Về con chung: Không có.

- Tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định bà và ông V không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn Đỗ Hoàng V nhiều lần nhưng bị đơn đều vắng mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an Phường 3, quận Phú Nhuận thì ông V có hộ khẩu thường trú tại số *** Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Phú Nhuận. Nhưng hiện tại ông V không thực tế cư trú tại *** Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Phú Nhuận, chưa rõ chỗ ở hiện nay. Do đó Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến xác định việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đại diện Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 17 do Ủy ban nhân dân Phường 03, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 10/5/2018 thì hôn nhân giữa bà Trương Thị Mỹ H và ông Đỗ Hoàng V là hợp pháp.

Nguyên đơn bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông V có hộ khẩu thường trú tại ***Nguyễn Kiệm, Phường 3, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân gia đình theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng.

Do bị đơn ông Đỗ Hoàng V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ H có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện:

Về yêu cầu ly hôn:

Xét thấy, vợ chồng phải quan tâm chăm sóc, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau và cùng vun đắp đời sống gia đình, nhưng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông V không có chia sẻ dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh không thể khắc phục. Đời sống hôn nhân phải được duy trì trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, nhưng thực tế giữa ông bà đã không tồn tại đời sống chung, sống ly thân 02 năm nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu của bà H được ly hôn ông V là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Về con chung: Bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.

Các vấn đề khác: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 48, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Mỹ H được ly hôn với ông Đỗ Hoàng V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 17 do Ủy ban nhân dân Phường 03, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh cấp ngày 10/5/2018 cho bà Trương Thị Mỹ H và ông Đỗ Hoàng V hết hiệu lực pháp luật.

1.2 Về con chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xét.

1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xét.

1.4 Về các vấn đề khác: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Trương Thị Mỹ H phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí số AA/2021/0029639 ngày 29/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ