vanban.org

Bản án 90/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Hoàng T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;

Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2020 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Hoàng T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2020/HSST
Ngày: 25 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thành Viên

2. Bà Châu Thị Lệ

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Lê Quỳnh Thư

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 94/2020/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Đinh Hoàng T; giới tính: Nam, sinh năm 1986 tại Tp. Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 269/11 V, Phường A, Quận B, Tp. H; nơi cư trú : Không ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Đinh Văn H (sinh năm 1959) và bà Lê Thị L (sinh năm 1960); Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án : không ; tiền sự : không; Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 10/02/2020 (Có mặt).

Bị hại :

- Ông Trần Tín Hồ A, sinh năm 1989; Trú tại: 78 G, Phường A, quận G, Tp. H (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Ông Trần Thủy Hồ H, sinh năm 1985; Trú tại: 109C T, Phường T, quận T, Tp. H ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 10/02/2020 Đinh Hoàng T đang ngồi chơi ở ngã 3 Tân Kim, huyện Cần Giộc, tỉnh Long An thì có người bạn tên Dư (chưa xác định) gọi điện thoại rủ đi trộm cắp xe máy về bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, Tuấn đồng ý và nói Dự đến đón. Sau đó Dư điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade (không rõ biển số) chở Tuấn đi về quận Gò Vấp để tìm trộm xe gắn máy. Khi đến trước quán cà phê địa chỉ: 78 Nguyễn Tư Giãn, phường 12, quận Gò Vấp do anh Trần Tín Hồ A làm chủ phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Honda SH, biển số 59T2 – 300.72 dựng bên hông nhà và đi vào trong. Dư đi xe quay lại phía bên kia đường đưa xe cho Tuấn và đứng cảnh giới. Dư đi vào bên trong dùng đoản sắt bẻ ổ khóa công tắc xe gắn máy hiệu Honda SH, biển số 59T2 – 300.72 rồi nổ máy tăng ga tẩu thoát về hướng đường Phan Huy Ích, còn Tuấn chạy xe Honda AirBlade phía sau nhằm mục đích cản địa nếu có người truy đuổi. Khi cả hai chạy xe đến ngã 4 An Sương thì Dư dừng xe lại đưa chiếc xe mới trộm cắp được cho Tuấn chạy để tìm nơi rả soát xem có định vị hay không để xử lý, còn Dư chạy xe AirBlade đi đâu không rõ và hẹn sẽ gọi điện lại cho Tuấn Sau. Tuấn chạy xe gắn máy vừa trộm được về hướng Quốc lộ 50 thuộc huyện Bình Chánh.

Sau khi phát hiện bị mất trộm xe anh Trần Tín Hồ A dùng điện thoại mở định vị và phát hiện chiếc xe đang di chuyển trên Quốc lộ 50, huyện Bình Chánh nên anh Trần Tín Hồ A liên lạc cho Đội Hiệp sĩ Bình Tân để tìm xe. Sau đó Đội Hiệp sĩ điện thoại nói Trần Tín Hồ A đã giữ được đối tượng cùng chiếc xe mô tô hiệu Honda SH, biển số 59T2 – 300.72 giao Công an xã Phong Phú, huyện Bình Chánh làm việc và bàn giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Gò Vấp thụ lý theo thẩm quyền .

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Gò Vấp Đinh Hoàng T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân như đã nêu trên.

Vật chứng gồm:

- 01 ( Một) xe máy hiệu hoda SH 150I màu trắng biển số 59T – 300.72; số khung ZDCJF 23P09F011727; số máy: JF14E 1017473. Tại bản kết luận định giá tài sản số 78/KL của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp kết luận xe này đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 10/2/2020 là 90.333.000 đồng. Qua xác minh xe này do anh Ông Trần Thủy Hồ H đứng tên chủ sở hữu, làm việc với anh Hoàng thì anh cho biết xe này anh đứng tên hộ cho anh Trần Tín Hồ A vì Hồ Anh không có hộ khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh. Làm việc với anh Hồ Anh thì anh trình bày xe này mua vào năm 2019 với số tiền là 110.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại và có nhờ anh Hồ Anh đứng tên. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Trần Tín Hồ A, anh Hồ Anh nhận lại xe và không có yêu cầu gì thêm.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen ( điện thoại Tuấn và Dư liên lạc rủ đi trộm cắp tài sản);

- Tiền VN: 2.985.000 đồng ( Trong đó: 1.000.000 đồng Tuấn cầm giấy tờ xe trộm cắp mà có; còn 1.985.000 đồng là tài sản của Tuấn).

- 01 USB ghi hình ảnh Tuấn và Dư đang trộm cắp tài sản.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Gò Vấp đã nhập kho vật chứng số 108/PNK, ngày 6/5/2020.

Đối với người thanh niên tên Dư ( chưa rõ lai lịch) trực tiếp lấy trộm xe giao cho Tuấn chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa đề nghị xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 101/Ctr-VKS, ngày 26/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Đinh Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đinh Hoàng T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khỏan 2 Điều 173, điểm s khỏan 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (một triệu) đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.985.000 (một triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn) đồng

- Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB

Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 90.333.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Đinh Hoàng T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại với tổng giá trị tài sản tương đối lớn với số tiền là 90.333.000 đồng nên Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người thanh niên tên Dư ( chưa rõ lai lịch) trực tiếp lấy trộm xe giao cho Tuấn chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa đề nghị xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi nào có đủ cơ sở đề nghị xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại anh Trần Tín Hồ A và anh Ông Trần Thủy Hồ H vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện, anh Hồ Anh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 ( Một) xe máy hiệu hoda SH 150I màu trắng biển số 59T – 300.72; số khung ZDCJF 23P09F011727; số máy: JF14E 1017473. Qua xác minh xe này do anh Ông Trần Thủy Hồ H đứng tên chủ sở hữu, làm việc với anh Hoàng thì anh cho biết xe này anh đứng tên hộ cho anh Trần Tín Hồ A vì Hồ Anh không có hộ khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh. Làm việc với anh Hồ Anh thì anh trình bày xe này mua vào năm 2019 với số tiền là 110.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại và có nhờ anh Hồ Anh đứng tên. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Trần Tín Hồ A, anh Hồ Anh nhận lại xe và không có yêu cầu gì. Xét, việc trả lại tài sản trên là hợp lệ nên không đưa ra xem xét giải quyết lại.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen là công cụ để Tuấn và Dư liên lạc rủ đi trộm cắp tài sản thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Số tiền 2.985.000 đồng, trong đó 1.000.000 đồng là tiền Tuấn cầm giấy tờ xe trộm cắp mà có. Xét, đây là khoản tiền thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp sung quỹ Nhà Nước.

Số tiền còn lại 1.985.000 đồng là tư vật của Tuấn không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

- 01 USB ghi hình ảnh Tuấn và Dư đang trộm cắp tài sản. Xét, đây là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án để bảo toàn chứng cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đinh Hoàng T phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đinh Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 10/02/2020

Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và khỏan 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (một triệu) đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.985.000 (một triệu chín trăm tám mươi lăm nghìn) đồng

- Tịch thu lưu kèm hồ sơ vụ án 01 USB

( Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 108/PNK ngày 06/5/2020 của Công an quận Gò Vấp)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TPHCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;

- Công an quận Gò Vấp;

- Viện kiểm sát quận Gò Vấp;

- Người tham gia tố tụng;

- Bị cáo;

- PC27 công an TPHCM;

- THA hình sự;

- Lưu.

Phạm Thị Hương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TPHCM;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;

- Công an quận Gò Vấp;

- Viện kiểm sát quận Gò Vấp;

- Người tham gia tố tụng;

- Bị cáo;

- PC27 công an TPHCM;

- THA hình sự;

- Lưu.

Phạm Thị Hương

Thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội và Công văn số 276/TANDTC –PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội. Đối chiếu mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 1999 với Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mức hình phạt của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi hơn cho bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Cỡ chữ