vanban.org

Bản án 90/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/06/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Th - Cố Ý gây thương tích - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2026/HS-ST
Ngày 30 - 6 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bà Lê Thị Hồng

Ông Nguyễn Thái Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Anh Tú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026 tại sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An, Toà án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn T, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1975 tại xã H, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: xóm C, xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phan Văn L (đã chết) và bà Phạm Thị Đ; vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16 tháng 3 năm 2026 cho đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Phan Quốc A, sinh năm 1991; địa chỉ: khối X, phường V, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/3/2026, Tổ công tác của Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu thuộc Phòng C Công an tỉnh N có 07 đồng chí do Đại úy Thái Bình D (sinh năm 1989, trú tại Khu đô thị E, phường T, tỉnh Nghệ An) làm tổ trưởng, đều mặc trang phục Cảnh sát giao thông đúng điều lệnh Công an nhân dân, thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại Km447+700 đường Q, thuộc địa phận xóm B, xã T, tỉnh Nghệ An. Thời gian thực hiện nhiệm vụ từ 18 giờ 00 phút đến 24 giờ cùng ngày theo Kế hoạch số 82/PC08 ngày 03/3/2026 của Phòng C Công an tỉnh N và Kế hoạch số 11/2026/KHTTKSGT ngày 09/3/2026 của Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu về tuần tra, kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm là nguyên nhân gây tai nạn giao thông trên các tuyến đường bộ, đường sắt thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An.

Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác phát hiện Phan Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu sơn đỏ đen, biển số 37K1-522.07 lưu thông theo hướng Bắc - Nam có dấu hiệu vi phạm nên đồng chí Phan Quốc A (sinh năm 1991, trú tại khối V, phường T, tỉnh Nghệ An) và đồng chí Bùi Vinh Q (sinh năm 1986, trú tại khối E, xã C, tỉnh Nghệ An) - là thành viên thuộc tổ công tác ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Phan Văn T xuất trình 01 Giấy phép lái xe hạng A1 và 01 Thẻ căn cước công dân đều mang tên Phan Văn T. Đồng chí Phan Quốc A yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn bằng máy chuyên dụng, Thời chấp hành kiểm tra. Kết quả đo thể hiện nồng độ cồn của Phan Văn T là 0,155mg/1 lít khí thở. Sau khi được thông báo lỗi vi phạm, T thừa nhận đã sử dụng rượu, bia và công nhận hành vi vi phạm nên đồng chí Phan Quốc A tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định. Trong quá trình lập biên bản, Phan Văn T trình bày hoàn cảnh khó khăn, xin tổ công tác bỏ qua lỗi vi phạm và không lập biên bản nhưng không được chấp nhận. Khi đồng chí Phan Quốc A đang ngồi lập biên bản thì Phan Văn T đi ra phía sau xe mô tô của mình, mở cốp xe lấy 01 chiếc búa dài khoảng 30cm, đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ, cầm bằng tay phải rồi bất ngờ đi đến phía sau lưng đồng chí Phan Quốc A và đánh liên tiếp 03 phát từ trên xuống vào vùng đầu của đồng chí Phan Quốc A. Hậu quả, đồng chí Phan Quốc A bị 03 vết thương vùng đầu, chảy nhiều máu, gồm: 01 vết thương vùng thái dương chẩm phải dài 03cm, bờ nham nhở; 01 vết thương vùng đỉnh đầu dài 02cm, bờ nham nhở và 01 vết thương vùng thái dương phải dài 03cm, bờ nham nhở. Bị tấn công bất ngờ, đồng chí Phan Quốc A hô hoán, ôm đầu bỏ chạy vào khu vực Công ty H1 (xóm B, xã T) thì Phan Văn T cầm búa đuổi theo để tiếp tục đánh nhưng không đuổi kịp. Sau đó, T quay lại thì bị một số đồng chí trong tổ công tác tiếp cận khống chế. Tuy nhiên, T cầm búa giơ lên đe dọa khiến mọi người phải giãn ra. Lợi dụng sơ hở, T cất búa vào cốp xe, bỏ lại xe mô tô rồi chạy ra hướng đường Q.

Ngay lúc đó, các đồng chí còn lại trong tổ công tác đang làm nhiệm vụ gần đó lập tức truy đuổi để khống chế đối tượng. Trong quá trình bỏ chạy, Phan Văn T nhặt một viên gạch ven đường giơ lên đe dọa ném lực lượng truy đuổi, sau đó tiếp tục tháo mũ bảo hiểm cầm trên tay để đe dọa tấn công cảnh sát giao thông. Khi chạy được một đoạn, T bị tổ công tác khống chế, bắt giữ và đưa về Công an xã T, tỉnh Nghệ An để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 (một) chiếc búa có kích thước 30cm, cán búa bằng gỗ dài 24cm, đầu búa bằng kim loại; 01 (một) mũ bảo hiểm; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu sơn đỏ đen, biển số 37K1-522.07 của Phan Văn T.

Sau khi sự việc xảy ra, tổ công tác cùng người dân đã đưa đồng chí Phan Quốc A đi cấp cứu tại Bệnh viện H2. Do vụ việc xảy ra, tổ công tác không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đã được phân công. Ngày 16/3/2026, đồng chí Nguyễn Quốc A1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và giám định thương tích gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N.

Tại kết luận giám định số 132/KLTTCT-TTPY ngày 23 tháng 3 năm 2026 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận:

“- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Quốc A tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Kết luận khác:

+ Một vết thương đỉnh đầu bên phải là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.

+ Một vết thương đỉnh đầu bên trái là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ trên xuống dưới.

+ Một vết thương thái dương chẩm bên phải là do vật tày có cạnh tác động gây nên, có chiều hướng từ bên phải sang bên trái”.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Phan Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tác động gia đình bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phan Quốc A số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng và bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự gì thêm.

Bản cáo trạng số 53/CT-VKSNAN-KV ngày 27 tháng 5 năm 2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, các quyết định, các hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An cũng như của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tối đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, k khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn T từ ….. tháng đến ……. tháng tù; về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tiêu hủy 01 (một) chiếc búa có kích thước 30cm, cán búa bằng gỗ dài 24cm, đầu búa bằng kim loại có 01 đầu tròn và 01 đầu cong vót nhọn, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm, màu ghi, nhãn hiệu HELMETS-GRS, đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, khung hình phạt: Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng được thu giữ cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/3/2026, tại Km447+700 đường Q thuộc xóm B, xã T, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác của Trạm Cảnh sát giao thông Diễn Châu thuộc Phòng C Công an tỉnh N đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát thì phát hiện Phan Văn T điều khiển xe mô tô vi phạm nồng độ cồn với mức 0,155mg/1 lít khí thở nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định. Do không được tổ công tác chấp nhận xin bỏ qua lỗi vi phạm, Phan Văn T đã đi đến xe mô tô của mình lấy 01 chiếc búa dài khoảng 30cm, đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ là hung khí nguy hiểm rồi bất ngờ đi đến phía sau đồng chí Phan Quốc A đang ngồi lập biên bản và dùng búa đánh liên tiếp 03 phát vào vùng đầu của đồng chí Phan Quốc A, gây thương tích ở vùng đầu với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03% (ba phần trăm). Sau khi gây thương tích, Phan Văn T bị tổ công tác khống chế, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Như vậy, hành vi của Phan Văn T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" được quy định tại điểm a, k khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước và lực lượng thực thi pháp luật. Bị cáo sử dụng búa là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu là vị trí trọng yếu trên cơ thể con người, thể hiện tính chất liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Mặt khác, tại thời điểm bị xâm hại, bị hại anh Phan Quốc A là cán bộ Công an đang thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định; Mặc dù nhận thức rõ bị hại là người đang thi hành công vụ nhưng bị cáo không chấp hành yêu cầu của lực lượng chức năng mà còn sử dụng búa đánh trực tiếp vào vùng đầu của bị hại. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của công dân mà còn xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực thi công vụ của lực lượng chức năng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Nhưng xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; có bố để được tặng thưởng huy chương kháng chiến đây là các tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoàn 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho anh Phan Quốc A số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Anh A không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng:

- 01 (một) chiếc búa có kích thước 30cm, cán búa bằng gỗ dài 24cm, đầu búa bằng kim loại có 01 đầu tròn và 01 đầu cong vót nhọn, đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ;

- 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm, màu ghi, nhãn hiệu HELMETS-GRS, đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ;

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Air Blade, màu sơn đỏ đen, biển số 37K1-522.07; 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, số AA224614 của Phan Văn T - Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Phòng C Công an tỉnh N xử lý đối với hành vi vi phạm Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, k khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Phan Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam.

- Về vật chứng: áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) chiếc búa có kích thước 30cm, cán búa bằng gỗ dài 24cm, đầu búa bằng kim loại có 01 đầu tròn và 01 đầu cong vót nhọn, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm, màu ghi, nhãn hiệu HELMETS-GRS, đã qua sử dụng (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 – Nghệ An ngày … tháng … năm 2026)

- Về án phí: áp dụng Điều 136, khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ