vanban.org

Bản án 90/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú H được ly hôn với ông Trương Thành T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú H.
  • Căn cứ chính? Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân…; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK
Bản án số: 90/2026/HNGĐ-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 29 – 05 – 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1./ Ông Hoàng Viết Thống.

2./ Bà Nguyễn Thị Bạn.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2026, tại phòng xử án - Toà án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10/10/2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2026/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tú H, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số E Đ, tổ dân phố D T, phường B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Trương Thành T, sinh năm 1995 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số D T, tổ dân phố G T, phường B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Tú H trình bày:

Tôi và ông Trương Thành T tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B ngày 03/4/2015 (Nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk).

Quá trình sống chung vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn tình cảm và không quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn nên tôi xin được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là: Trương Huyền A, sinh ngày 11/5/2015; Tôi xin được trực tiếp chăm sóc con chung và không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Tôi làm nghề trang điểm, thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng, có nơi ở ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Ông T làm nghề lái xe.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Trương Thành T nhưng ông Trương Thành T vẫn vắng mặt, không có lý do. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Đắk Lắk trình bày:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, đúng quan hệ trông chấp, đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Đề nghị HĐXX:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Tú H:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú H và ông Trương Thành T được ly hôn với nhau.

- Về con chung:

Giao cháu Trương Huyền A, sinh ngày 11/05/2015 cho bà Nguyễn Thị Tú H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú H yêu cầu ly hôn với ông Trương Thành T, địa chỉ cư trú tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2015/QH15, thì đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đắk Lắk.

Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do; Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú H có Đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú H và ông Trương Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B ngày 03/4/2015 (Nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị Tú H và ông Trương Thành T sau kết hôn thì về chung sống với nhau tại địa chỉ E Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi về chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo bà Nguyễn Thị Tú H trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không còn tình cảm và không quan tâm, chăm sóc đến nhau nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết:

“Quá trình sống chung thì ông bà phát sinh mâu thuẫn, về nguyên nhân cụ thể mâu thuẫn thì địa phương không nắm, ông bà không yêu cầu hòa giải tại địa phương.”

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc bà Nguyễn Thị Tú H xét thấy không còn tình cảm với ông Trương Thành T, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, dẫn đến mâu thuẫn cuộc sống kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Tú H, cho bà Nguyễn Thị Tú H được ly hôn với ông Trương Thành T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị Tú H và ông Trương Thành T có 01 con chung là cháu Trương Huyền A, sinh ngày 11/05/2015.

Quá trình giải quyết vụ án xác định cháu Trương Huyền A hiện đang ở với bà H; Bà H cũng có nguyện vọng xin được nuôi cháu Trương Huyền A; Cháu Trương Huyền A cũng có nguyện vọng xin được ở với bà Nguyễn Thị Tú H nên căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX giao cháu Trương Huyền A cho bà Nguyễn Thị Tú H.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Tú H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bị đơn ông Trương Thành T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2015/QH15;

Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú H được ly hôn với ông Trương Thành T.

2. Về con chung:

Giao con chung là cháu Trương Huyền A, sinh ngày 11/05/2015 cho bà Nguyễn Thị Tú H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Trương Huyền A đủ 18 tuổi.

Ông Trương Thành T có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tú H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000336 ngày 22/8/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ