- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân T - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2025/HS-ST Ngày: 26-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Di
Ông Nguyễn Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 05/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HS ngày 12/12/2025 đối với bị cáo:
Bùi Xuân T, sinh năm 1989 tại Thành phố H. HKTT: Ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: Không có nơi ở ổn định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Bùi Xuân L, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1952. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm gian H, Trại tạm giam cơ sở 1 – Công an Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Xuân T là đối tượng đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện thế bằng thuốc Methadone từ ngày 02/02/2015 tại Trung tâm y tế L1, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào lúc 09 giờ 00 phút ngày 23/7/2025, T đi đến xóm Đ thuộc phường V, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) mua một gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma tuý đi về nhà của mình tại ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 09 giờ 30 phút ngày 24/07/2025, T lấy gói ma tuý ra sử dụng tại nhà của T.
Ngày 25/07/2025, T đến Khoa Tư vấn và Điều trị nghiện chất - Trung tâm y tế L1 để điều trị nghiện ma túy bằng hình thức điều trị nghiện các dạng chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Tại đây, T bị Cơ quan Công an test nhanh nước tiểu cho kết quả dương tính với ma tuý đá.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Xuân T đã thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 24/07/2025 tại ấp H, xã L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Bản kết luận giám định số 1851/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:
- Một phong bì màu trắng, được niêm phong, có hình dấu của Công an xã L – Công an Thành phố H, cùng các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Thanh H, Vũ Văn C, Đặng Hoàng T1, Trịnh Thị T2, Bùi Xuân T, bên trong có 01 (một) lọ có nắp màu đỏ chứa nước tiểu (kí hiệu mẫu M), gửi đến giám định tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Bùi Xuân T.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSKV13 ngày 05/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Bùi Xuân T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng. Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Không.
- Về án phí HSST: Bị cáo chịu án phí theo quy định.
Bị cáo đồng ý với truy tố của Viện kiểm sát và không tham gia tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Mặc dù đang trong thời hạn điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế Methadone theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy tại Trung tâm y tế L1, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng Bùi Xuân T lại có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 24/7/2025. Đến ngày 25/7/2025, T bị cơ quan công an kiểm tra, xét nghiệm và phát hiện có chất ma túy loại Methamphetamine trong cơ thể.
Do đó có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Xét thấy, bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội; biết nhà nước nghiêm cấm tất cả các hành vi mua bán, sản xuất, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Mặc dù đang trong thời gian tự cai nghiện bằng thuốc thay thế nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất cấm, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng phải xem xét tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Không.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:
Xử phạt: Bị cáo Bùi Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Không.
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Buộc bị cáo Bùi Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP Hồ Chí Minh; - VKSND TP Hồ Chí Minh; - VKSND KV 13 – TP HCM; - Công an TP Hồ Chí Minh; - THADS TP Hồ Chí Minh; - Phòng THADS KV 13- TP HCM; - Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Ngân |