- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "T-T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thanh T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/12/2025. “V/v: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn’’ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Duy Liệu
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Học, ông Đào Huy Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Tiến Phúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 -Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Hưng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/12/2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 312/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 25/11/2025 và thông báo thay đổi lịch phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 16/12/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Chu Thanh T, sinh năm 1991 (Xin vắng mặt).
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 21/03/2028.
Địa chỉ: Tổ dân phố số 6 VG, phường ST, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Phương T1, sinh năm 1985 (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ 2, XK, phường TT, thành phố Hà Nội.
Hiện đanh chấp hành án tại đội 24, phân trại số 4 – Trại giam số 6 – Bộ Công an – Địa chỉ: xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Chu Thanh T trình bày: Trước đây, tôi với anh Nguyễn Phương T1 có quan hệ vợ chồng, tuy nhiên cuộc sống chung không hạnh phúc, anh T1 đã làm đơn xin ly hôn với tôi. Tại Quyết định công nhận thuận T ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 12/2029/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã giải quyết cho anh T1 được ly hôn với tôi. Về phần con chung, anh T1 là người nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Đức A, sinh ngày 10/9/2015, tôi là người nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Trang, sinh ngày 09/10/2012. Sau khi ly hôn, tôi với anh T1 đã T1 hiện theo đúng như quyết định của Tòa án. Đến tháng 5/2025, anh T1 phải đi chấp hành án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với mức án 04 năm, 09 tháng tù. Hiện anh T1 đang chấp hành án tại đội 24, phân trại số 4 – Trại giam số 6 – Bộ Công an – Địa chỉ: xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau khi anh T1 đi chấp hành án, cháu Nguyễn Phương Đức A sống với bà nội, tôi thấy bà nội cháu đã già, không thể dạy bảo và đưa cháu đi học được. Cháu Đức Anh có nguyện vọng về ở với tôi và T1 tế cháu đã về sống với tôi từ tháng 5/2025 đến nay. Nay để đảm bảo quyền lợi cho cháu, tôi đề nghị Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể tôi đề nghị Tòa án giao cháu Nguyễn Phương Đức A cho tôi nuôi dưỡng, nếu được nuôi con, tôi không yêu cầu anh Nguyễn Phương T1 cấp dưỡng nuôi con.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Nghệ An đối với anh Nguyễn Phương T1, anh T1 khai như sau: Trước đây, tôi với chị Chu Thanh T có quan hệ vợ chồng, tuy nhiên cuộc sống chung không hạnh phúc, tôi đã làm đơn xin ly hôn với chị T1. Tại Quyết định công nhận thuận T ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 12/2029/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã giải quyết cho tôi được ly hôn với chị T. Về phần con chung, tôi là người nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Đức A, sinh ngày 10/9/2015, chị T là người nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phương Trang, sinh ngày 09/10/2012. Sau khi ly hôn, tôi với chị T đã T1 hiện theo đúng như quyết định của Tòa án. Đến tháng 5/2025, tôi phải đi chấp hành án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với mức án 04 năm, 09 tháng tù. Hiện tôi đang chấp hành án tại đội 24, phân trại số 4 – Trại giam số 6 – Bộ Công an – Địa chỉ: xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau khi tôi đi chấp hành án, cháu Nguyễn Phương Đức A sống với mẹ tôi là bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1961 – Địa chỉ: Số 3, ngõ 33 đường Xuân Khanh, phường Xuân Khanh, Hà Nội. Cháu Đức Anh sống với mẹ tôi được một thời gian thì tôi được biết cháu chuyển về sống với chị T (thời gian cụ thể cháu chuyển về sống với chị T ngày tháng, năm nào thì tôi không biết). Tuy nhiên việc cháu Đức Anh chuyển về sống với chị T là do trước khi tôi đi chấp hành án, tôi và chị T đã bàn bạc với nhau về vấn đề này.
Nay chị Chu Thanh T đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 9, Hà Nội giao cháu Nguyễn Phương Đức A cho chị T nuôi dưỡng, tôi hoàn toàn đồng ý vì: Mẹ tôi đã già, yếu, không nuôi được cháu, bản thân tôi đang phải chấp hành án. Vì đang phải chấp hành án nên tôi xin được vắng mặt tại tất cả các giải đoạn Tòa án giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa hôm nay chị Chu Thanh T và anh Nguyễn Phương T1 xin vắng mặt.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã T1 hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều Điều 81, 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thanh T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với anh Nguyễn Phương T1.
+ Giao con chung là cháu Nguyễn Phương Đức A, sinh ngày 10/9/2015 cho chị Chu Thanh T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con kể từ ngày 30/12/2025 cho đến khi cháu Đức Anh đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Chu Thanh T không yêu cầu anh Nguyễn Phương T1 cấp dưỡng nên đề nghị HĐXX tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Phương T1 đến khi cháu Nguyễn Phương Đức A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
+ Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật.
+ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Phương T1 có hộ khẩu thường trú tại tổ 2, XK, phường TT, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.1. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có lý do, có đơn xin xét xử vắng mặt nên sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn là hợp lệ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Chu Thanh T xin thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Phương Đức A từ anh Nguyễn Phương T1 sang cho chị T là người được trực tiếp nuôi dưỡng với lý do: Anh T1 đang phải chấp hành án với mức án 04 năm, 09 tháng tù về hai tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, mẹ đẻ anh T1 là bà Nguyễn Thị Hà đã già, yếu không nuôi được cháu Nguyễn Phương Đức A.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại cháu Nguyễn Phương Đức A đang sinh sống cùng với chị T, cháu được chị T cho ăn học, chăm sóc chu đáo, việc cháu Đức Anh về sống với chị T đã được anh T1 và chị T bàn bạc trước khi anh T1 đi chấp hành án. Như vậy, việc chị Chu Thanh T đề nghị Tòa án thay đổi nuôi con là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận, phù hợp với nguyện vọng của chị T, anh T1 và cháu Đức Anh và phù hợp với quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thanh T, giao cháu Nguyễn Phương Đức A cho chị Chu Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng kể từ ngày 30/12/2025 cho đến khi cháu Đức Anh trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Phương T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Chu Thanh T không yêu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Phương T1 đến khi cháu Nguyễn Phương Đức A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thanh T được chấp nhận nên chị T không phải chịu án phí sơ thẩm. Tuy nhiên, chị T nhận nộp thay 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Do đó chị T phải chịu án phí sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thanh T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
2. Giao con chung là cháu Nguyễn Phương Đức A, sinh ngày 10/9/2015 cho chị Chu Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ ngày 30/12/2025 đến khi cháu Đức Anh đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Phương T1 đến khi cháu Đức Anh đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Chị Chu Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, Hà Nội theo biên lai số 0012251, ngày 17/10/2025.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Chu Thanh T và anh Nguyễn Phương T1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP Hà Nội;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND KV 9-HN;
- Người tham gia tố tụng;
- UBND phường Sơn Tây, Hà Nội;
- Phòng THADS KV 9 - HN;
- Lưu hồ sơ;
Đỗ Duy Liệu THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Duy Liệu Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP Hà Nội;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND KV 9-HN;
- Người tham gia tố tụng;
- UBND phường Sơn Tây, Hà Nội;
- Phòng THADS KV 9 - HN;
- Lưu hồ sơ;
Đỗ Duy Liệu THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Duy Liệu
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND KV 9-HN; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã Suối Hai; - Phòng THADS KV 9 - HN; - Lưu hồ sơ; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Duy Liệu |