vanban.org

Bản án 90/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Thu H1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lý Thị Thu H1 được ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Thanh H2 (Huỳnh Thanh H2). 2. Về con chung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ sơ thẩm số: 90/2025/HNGĐ-ST ngày: 17 – 9 – 2025, V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Nguyên đơn: Bà Lý Thị Thu Hà - Bị đơn: Ông…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Thu H1.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 – 9 – 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

Thanh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thanh Nhanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thạch Dương Nhanh.

2. Ông Ngô Quốc Tiệp.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Hồng, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 70/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Thu H1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999.

Địa chỉ: Ấp G, xã H, thành phố Cần Thơ (Địa chỉ cũ: Ấp G, xã Q, Huyện X, tỉnh Sóc Trăng); (có mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh H2 (tên gọi khác: Huỳnh Thanh H2), sinh ngày 04 tháng 5 năm 1997.

Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố Cần Thơ (Địa chỉ cũ: Ấp T, xã Q, Huyện X, tỉnh Sóc Trăng); (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lý Thị Thu H1 trình bày:

Bà Lý Thị Thu H1 với ông Huỳnh Thanh H2 có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thạnh Quới, huyện Mỹ Xuyên vào ngày 17 tháng 6 năm 2019, giấy chứng nhận kết hôn số 121; là hôn nhân tự nguyện. Đến khoảng năm 2023 vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, bà H1 đã cố gắng nhưng không hoà hợp được. Vợ chồng không còn sống chung từ cuối năm 2022 đến nay. Nay bà H1 yêu cầu ly hôn với ông H2.

Trong thời kỳ hôn nhân bà H1 với ông H2 có 03 người con chung tên Huỳnh Ánh N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2018; Huỳnh Gia H3, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2021; Huỳnh Gia Đ, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2024; hiện nay đều sống chung với bà H1. Khi ly hôn, bà H1 yêu cầu được nuôi 03 người con chung, bà H1 không yêu cầu cấp dưỡng.

Bà H1 với ông H2 không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Đối với bị đơn: Ông Huỳnh Thanh H2 đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết Đ đưa vụ án ra xét xử, quyết Đ hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia tố tụng, lấy lời khai nhưng ông H2 đều vắng mặt không lý do, cũng không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ và văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà H1.

3. Ý kiến của con chung: Trong Tờ tường trình ghi ý kiến, nguyện vọng con chung ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Toà án đối với con chung tên Huỳnh Ánh N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2018, thì cháu N có nguyện vọng sống chung với mẹ là bà Lý Thị Thu H1.

4. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn ông H2 chưa chấp hành và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án: Có cơ sở chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, do bị đơn có nơi cư trú tại ấp T, xã Q, Huyện X, tỉnh Sóc Trăng nay là ấp T, xã H, thành phố Cần Thơ, nên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nay là Toà án nhân dân Khu vực 8 – Cần Thơ giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về việc vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông H2 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hai lần hợp lệ, nhưng đều vắng mặt không lý do. Việc vắng mặt này không gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Thu H1 và ông Huỳnh Thanh H2 được Ủy ban nhân dân xã Thạnh Quới, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 121 vào ngày 17 tháng 6 năm 2019; nay bà H1 yêu cầu ly hôn, Tòa án đã thông báo và triệu tập các đương sự tham gia hòa giải, nhưng ông H2 đều vắng mặt; bà H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, vì cho rằng ông, bà không còn chung sống với nhau nữa, cũng không quan tâm, chăm sóc cho nhau, bà không còn tình cảm với ông H2, nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Do đó, có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà H1 với ông H2 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà H1 với ông H2 có 03 người con chung tên Huỳnh Ánh N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2018; Huỳnh Gia H3, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2021; Huỳnh Gia Đ, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2024, hiện nay các con đều đang sống chung với bà H1. Nay bà H1 yêu cầu giao 03 con chung cho bà H1 tiếp tục nuôi dưỡng, bà không yêu cầu cấp dưỡng.

Xét thấy, ông H2 không có ý kiến gì đối với yêu cầu này của bà H1; bên cạnh đó, thì cháu Huỳnh Ánh N cũng có nguyện vọng được sống chung với bà H1; còn cháu Huỳnh Gia H3 còn nhỏ (dưới 07 tuổi), Huỳnh Gia Đ dưới 36 tháng tuổi và hiện nay do bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bà H1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung; đồng thời cũng nhằm ổn định cuộc sống cho các con chung, nên cần giao cháu Huỳnh Ánh N, Huỳnh Gia H3 và Huỳnh Gia Đ cho bà H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi.

Ông H2 có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các con được sống chung với bà H1; ông H2 cũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy Đ của khoản 1 và 2 Điều 81; khoản 1 và 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, ông H2 cũng không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, ông H2 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Do đó, lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Bà H1 là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1 Điều 56, khoản 1 và 2 Điều 81, khoản 1 và 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy Đ về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Thu H1.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Lý Thị Thu H1 được ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Thanh H2 (Huỳnh Thanh H2).

1.2. Về con chung:

Giao 03 con chung tên Huỳnh Ánh N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2018; Huỳnh Gia H3, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2021; Huỳnh Gia Đ, sinh ngày 25 tháng 5 năm 2024 cho bà Lý Thị Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung là cháu N, cháu H3 và cháu Đ tròn 18 (mười tám) tuổi.

Ông H2 có nghĩa vụ tôn trọng quyền của 03 con chung tên Huỳnh Ánh N, Huỳnh Gia H3, Huỳnh Gia Đ được sống chung với bà Lý Thị Thu H1.

Ông H2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở; bà H1 cùng các Thanh viên gia đình không được cản trở ông H2 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Ông H2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lý Thị Thu H1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001730 ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cần Thơ; như vậy, bà H1 đã nộp xong án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối với bị đơn ông Huỳnh Thanh H2 vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày Toà án tống đạt bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ